Sáng ngày 02/06/2024 (25/04/Giáp Thìn), Thượng toạ Thích Chúc Phú, Phó Tổng Biên tập Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam, Phó Giám đốc Thường trực Trung tâm dịch thuật Trí Tịnh, Trụ trì chùa Tịnh Quang tỉnh Đồng Nai đã quang lâm về giảng đường để chia sẻ bài pháp thoại đến chư […]
Sáng ngày 02/06/2024 (25/04/Giáp Thìn), Thượng toạ Thích Chúc Phú, Phó Tổng Biên tập Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam, Phó Giám đốc Thường trực Trung tâm dịch thuật Trí Tịnh, Trụ trì chùa Tịnh Quang tỉnh Đồng Nai đã quang lâm về giảng đường để chia sẻ bài pháp thoại đến chư hành giả an cư hạ trường Vạn Thiện với chủ đề “Vấn đề siêu độ trong kinh tạng Nikāya”.
Chúng ta đã từng tham dự các lễ cầu siêu, bằng cách này hoặc cách khác, vậy cơ sở của việc siêu độ bắt nguồn từ đâu? Trong lịch sử Phật giáo, đức Phật có từng thực hiện nghi lễ siêu độ nào không?
Thượng tọa giáo thọ đã lần lượt khai mở, làm sáng tỏ những vấn đề được đặt ra. Theo lịch sử Phật giáo ghi nhận, trong chuyến về thăm quê hương lần thứ 3 của đức Phật, vào lúc vua Tịnh Phạn sắp băng hà cũng vào khoảng thời gian Ni đoàn được thành lập. Khi đức Thế Tôn biết tin vua cha bệnh nặng, Ngài đã trở về bên phụ vương, đặt tay lên trán cha mình, thuyết pháp cho vua cha nghe. Trong chú giải của Trưởng lão Ni kệ, sau khi nghe xong bài pháp đó, vua Tịnh Phạn đắc quả A-la-hán. Lúc đó vua là cư sĩ tại gia, vậy người cư sĩ có thể chứng quả không? Theo kinh Na-tiên tỳ-kheo thì trong thời Đức Phật, cũng đã có những vị cư sĩ đắc quả A-la-hán. Tuy nhiên, khi một cư sĩ đắc quả A-la-hán vào ngày nào thì phải xuất gia ngay ngày ấy, để trở thành hình dáng một vị Sa-môn để xứng đáng với quả vị ấy; trường hợp không xuất gia được vì lý do nào đó thì vị ấy bắt buộc phải nhập Niết-bàn.
Vậy đối với người thân của người xuất gia nếu lâm chung phải làm thế nào mới đúng pháp? Chúng ta tham chiếu “Tịnh Phạn vương Niết-bàn kinh”, sẽ biết được đức Phật đã tĩnh lặng đứng trước linh cữu vua cha, trong tư thế nghiêm trang… Qua đó, chứng tỏ ngay từ thời đức Phật, sự quan tâm lân mẫn với một người sắp lìa trần là một điều hết sức trọng đại, là điều mà đức Phật rất mực gia tâm.
Đọc sâu vào kinh văn nhất là Tương Ưng bộ, chúng ta thấy những trường hợp có sự tương trợ, hỗ trợ từ yếu tố bên ngoài lúc lâm chung. Lấy ví dụ tỳ-kheo Bạc-ca-lê gần lúc lâm chung đã mong muốn gặp đức Thế tôn một lần, Phật liền xuất hiện đúng thời điểm đó và giáo hóa cho tỳ-kheo ấy được sanh về cảnh giới lành, cũng có những vị tỳ-kheo tự mình trợ niệm cho mình không cần sự trợ niệm của ai cả vì họ đã đạt được định lực và tự chủ nơi tự tâm.
Chư vị tỳ-kheo bề ngoài uy nghi là thế, hành đạo thuyết pháp làm Phật sự to lớn, được mọi người biết đến, tán dương, nhưng khi đối mặt với bệnh nặng mà không có người săn sóc thì thiên nan vạn nan. Trong kinh Tăng Nhất A-hàm, phẩm 44, có một vị tỳ-kheo đau bệnh mà không có người chăm sóc, vị ấy cam chịu đau đớn và chấp nhận sự hôi hám của chất thải cá nhân, bằng thiên nhãn thanh tịnh Phật đã biết và tới chăm lo cho vị ấy, Ngài hỏi vị tỳ-kheo bị bệnh rằng khi còn sống ông có thăm viếng các tỳ-kheo bệnh không, tỳ-kheo thưa con xưa nay lo tu tập miên mật, con không đi thăm viếng các tỳ-kheo bệnh khác, vì nhân duyên ấy Phật dạy các vị tỳ-kheo trong tăng đoàn nên có lòng lân mẫn chăm sóc, giúp đỡ các vị tỳ-kheo bị bệnh. Cho nên, ngoài yếu tố giới luật, lục hòa thì sựlân mẫn quan tâm lẫn nhau trong đoàn thể Tăng già rất quan trọng.
Nêu ra trường hợp kinh Trung Bộ 143, Trưởng lão Xá Lợi Phất giáo giới cho cư sĩ Cấp Cô Độc lúc sắp lâm chung, vấn đề không chấp thủ được Ngài Xá Lợi Phất lặp lại nhiều lần để khuyến tấn cư sĩ Cấp Cô Độc, giúp ông buông xả để thanh thản ra đi, tự tại trước cơn đau quặn thắt khi tứ đại phân ly, nhờ vậy mà được sanh về cõi trời Đâu Suất làm thiên tử.
Thượng tọa tiếp tục đưa ra thí dụ về hai vợ chồng vị cư sĩ nọ, người vợ dùng lời lẽ an ủi chồng sắp mất, người chồng còn nhiều vướng bận, bèn hỏi vợ tôi chết rồi bà có siêng năng đi chùa hay không, người vợ đáp: khi còn sống tôi và ông đều siêng năng đi chùa như ông, ông mất rồi tôi sẽ siêng năng đi chùa hơn, sau rồi ông suy nghĩ tiếp tôi với bà còn trẻ, tôi mất rồi bà đi qua gia đình người khác thì sao, người vợ phải an ủi bảo rằng từ lúc làm dâu nhà này tôi chưa từng có ý nghĩ khác; tôi chết rồi bà lấy gì chăm lo gia đình, ông yên tâm tôi sẽ làm việc chăm chỉ để nuôi dưỡng con cái…! Cuối cùng người chồng qua được cơn nguy kịch, lần lần khỏe lại. Câu chuyện này chứng tỏ sự cần thiết của việc hiểu tâm tư suy nghĩ người thân bằng để yểm trợ và khai mở tâm tư cho người sắp lâm chung rất mực quan trọng. Tránh trường hợp vì chấp thủ quá sâu nặng, mà không được Thiện tri thức giúp đỡ khai thị trước lúc lâm chung mà phải đọa lạc vào 3 đường ác đạo.
Vậy khai thị, yểm trợ cho người lâm chung, thì nên nói gì để không kẹt vào thói thường phàm tục (khuyên ráng ăn, ráng chịu đựng,v..v…) hoặc sai lệch tâm ý của người lâm chung khiến họ uất ức?
Tôn giả Xá Lợi Phất đã từng giúp cho một bà la môn sanh về cõi Phạm thiên vì từ lâu ông đã luyến ái cõi Phạm thiên và tu các nhân lành để được về cõi Phạm thiên. Muốn sanh về cõi này ắt phải hoàn thiện bốn yếu tố từ, bi, hỷ, xả với tâm rộng lớn vô lượng. Đây là điều nơi chúng ta cần phản tỉnh, thừa nhận nơi chúng ta chưa thể từ, bi, hỷ xả với hết thảy chúng sanh nhất là khó thương được người mình không ưa, chứ nói chi đến thương tới loài vật.
Thượng tọa đã tóm lược lại cho đại chúng về những điều cần thiết trang bị hành trang cho người sắp lâm chung để được sanh về cảnh giới tốt đó là, tùy theo điều kiện hoàn cảnh lúc lâm chung, khi người bệnh còn nhận thức tốt,cần tháo gỡ những vướng mắc tâm tư bằng cách khai thị cho họ vững tin với tứ bất hoại tín là bốn niềm tin không lay chuyển với Phật, Pháp, Tăng và thành tựu thánh giới, phá bỏ những nghi ngờ về giáo pháp là điều rất quan trọng để bứt phá được dòng nghiệp lực trong lúc cận tử. Cuộc đời ai cũng có lỗi lầm ít nhiều, quan trọng là có thể dọn lòng trong sạch để nhẹ nhàng trước lúc ra đi. Mỗi người đều có sở duyên, sở nguyện khác nhau nên lúc họ lâm chung thì nên tùy theo tâm nguyện mà an ủi, khuyến tấn đúng với mong muốn giúp họ buông xả một cách tuyệt đối chức vụ, danh vọng,v.v… có vậy mới có lợi lạc nhất định.
Đồng thời việc tổ chức tang lễ cho một người xuất gia phải đúng với tinh thần của chánh pháp, hành giả nên tham cứu các quy định trong tác phẩm Sắc tu Bách Trượng thanh quy kết hợp với yếu tố thời đại để đảm bảo trung đạo,không đơn giản thành ra tâm bất nhẫn, rình rang quá cũng không thích hợp với đời sống xuất gia.