Họ là những người vì mưu sinh mà bỏ quê hương, mang theo bao nỗi niềm ly hương đến vùng đất mới khai hoang lập ấp giữa nắng bụi mưa bùn. Đời sống gian khó, thiếu thốn trăm bề, nước mắt nhiều hơn nụ cười. Thế nhưng, điều khiến tôi kính phục nhất là đi đến đâu, họ cũng dựng lên một ngôi Niệm Phật đường để nương tựa tâm linh. Họ nghèo tiền bạc nhưng lại rất giàu lòng mộ đạo, đức tin bất hoại với Tam bảo chính là chỗ dựa vững chắc cho họ vượt qua nghịch cảnh.

TÔI LÀM GIÁM KHẢO

Chùa Vạn Thiện, ngày 28 tháng 10 năm 2026

Ngày 22/12/2026, Báo Giác Ngộ đưa tin Ban Hoằng pháp – Hướng dẫn Phật tử Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thi giáo lý dành cho Phật tử toàn thành phố lần đầu tiên sau khi sáp nhập ba đơn vị hành chính (thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) do chính tôi làm Trưởng ban tổ chức.

Tối hôm ấy, một học trò cũ đã gửi cho tôi một bức ảnh hoen màu kỷ niệm: bức ảnh chụp tại Hội thi Giáo lý đầu tiên do Ban Hoằng pháp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tổ chức tại thiền viện Minh Đức (núi Dinh) vào năm 1995, năm mà tôi vinh dự được ngồi trong Hội đồng Giám khảo. Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc tôi làm Giám khảo.  

Người học trò năm ấy mới tròn mười lăm tuổi, sau này duyên lành hội đủ, phát tâm xuất gia và nay đã trở thành một vị tu sĩ đóng góp đắc lực cho Giáo hội. Nhìn lại bức ảnh cũ với khoảnh khắc của ba mươi năm về trước, lòng tôi dâng lên những xúc cảm bồi hồi lạ thường, vừa thương nhớ một thời thanh xuân dấn thân, vừa cảm ơn cội nguồn ơn nghĩa và ấm áp tình thầy trò với bao kỷ niệm ngập tràn.

Tinh thần hoằng pháp độ sanh từ lịch đại Tổ sư

Nhìn lại dòng chảy hoằng pháp của lịch sử Phật giáo, sứ mệnh tự độ, độ tha luôn là ngọn đuốc soi đường không bao giờ tắt. Ngay từ thời Phật tại thế, Tôn giả Phú-lâu-na (Purna) được xưng tụng là bậc Thuyết pháp đệ nhất. Ngài không quản ngại nguy hiểm, sẵn sàng đến vùng đất biên địa Du-lô-na hiểm ác (miền Tây Ấn Độ) để hoằng dương Chánh pháp với tâm niệm xem lăng mạ như khen ngợi, xem đánh đập như ân sủng. Hay như Tôn giả Xá-lợi-phất, dù trí tuệ lỗi lạc bậc nhất, vẫn luôn hạ mình đem ánh sáng Phật-đà soi chiếu đến mọi tầng lớp chúng sinh.

Bước sang lịch sử Trung Hoa, tinh thần dấn thân ấy tiếp tục tỏa sáng qua gương hạnh của Đại sư Huệ Viễn. Ngài lập đạo tràng trên núi Lô Sơn, suốt ba mươi năm không bước chân ra khỏi núi, miên mật niệm Phật và hoằng truyền tịnh hóa nhân gian. Lại như Đại sư Giám Chân, vì lòng thao thức đưa Chánh pháp sang đất Nhật, dù sáu lần vượt biển thất bại, đôi mắt mù lòa vì sương gió, ngài vẫn kiên định chí nguyện cho đến khi thuyền cập bến hoa khai.

Tại quê nhà Việt Nam, tinh thần dấn thân vì đạo pháp cũng chưa từng vắng bóng. Từ Thiền sư Khương Tăng Hội đem đạo uyển chuyển dung hòa vào nền văn minh sông nước phương Nam buổi sơ khai, cho đến thời đại cận đại, cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa – vị Tôn sư khai sáng nền Phật học phổ thông, đã để lại tâm tư chấn động tâm can bao thế hệ tăng sĩ qua Khóa tập huấn trụ trì tại chùa Tuyền Lâm (Chợ Lớn) năm 1957:“Nơi nào Chánh pháp cần, con đến; nơi nào chúng sanh cần, con đi. Chẳng quản gian lao, chẳng từ khó nhọc…”

Chính tinh thần ấy đã chảy trong huyết mạch của thế hệ chúng tôi những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước.

Ký ức một thời hoa mộng và ánh lửa sơ khai

Năm ấy, Hòa thượng Thích Giác Hạnh đảm nhận trọng trách Trưởng ban Hoằng pháp nhiệm kỳ đầu tiên của Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (1992-1997) sau khi tách ra từ tỉnh Đồng Nai. Ngài cũng chính là vị Giáo thọ sư đã dìu dắt tôi từ lớp Trung cấp đến Cao đẳng Phật học tại Trường Phật học danh tiếng Đại Tòng Lâm.

Hòa thượng làm việc với tất cả tâm huyết của một sứ giả Như Lai ở buổi sơ khai. Ngài mạnh dạn giao việc giảng dạy các trường hạ, các đạo tràng cho hàng hậu học chúng tôi gồm: sư Giác Thành, thầy Tâm Pháp, thầy Thiện Quang, thầy Nhuận Bình, thầy Phước Tiến và tôi. Có lẽ Ngài thương và muốn tài bồi cho đàn em, dẫu lúc ấy, ai nấy đều còn non trẻ lắm!

Hòa thượng tổ chức Hội thi giáo lý như một cuộc cách mạng thức tỉnh trách nhiệm của người xuất gia đối với cư sĩ. Nhớ lại thuở ấy, tôi xắn tay áo tham gia từ việc viết lách, cắt chữ trang trí, soạn đề cương cho đến tận tụy ôn bài cùng bà con ở những vùng kinh tế mới xa xôi của Xuyên Mộc, Châu Đức như chùa Bình Quang, chùa Quảng Đức, chùa Quảng Ân, chùa Kim Long, hay chùa Hưng Hiệp của Tịnh độ Cư sĩ tại Vũng Tàu. Tôi tự xem mình như “thư ký riêng” của Hòa thượng, lăn xả với nhiệt huyết tràn trề, dẫu thể trạng lúc bấy giờ còn mang di chứng của bệnh lao phổi yếu ớt.

Những chuyến xe đong đầy tình đạo vị

Thể lệ Hội thi ngày ấy khắt khe lắm. Phật tử đăng ký học theo bộ Phật học Phổ thông của cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa qua các khóa I đến IV. Chư Tôn đức Giảng sư không quản ngại nắng mưa, đường sá xa xôi đi về các vùng nông thôn để ôn tập cho bà con. Thường thì các lớp học được tổ chức vào ban đêm. Ở các vùng quê nghèo, Phật tử cứ đúng 11 giờ trưa là lái xe máy lên Đại Tòng Lâm đón anh em chúng tôi về làng. Nhìn bà con xúm xít đón “thầy Giảng sư” về làng với nụ cười chân chất, lòng tôi thương biết mấy!

Họ là những người vì mưu sinh mà bỏ quê hương, mang theo bao nỗi niềm ly hương đến vùng đất mới khai hoang lập ấp giữa nắng bụi mưa bùn. Đời sống gian khó, thiếu thốn trăm bề, nước mắt nhiều hơn nụ cười. Thế nhưng, điều khiến tôi kính phục nhất là đi đến đâu, họ cũng dựng lên một ngôi Niệm Phật đường để nương tựa tâm linh. Họ nghèo tiền bạc nhưng lại rất giàu lòng mộ đạo, đức tin bất hoại với Tam bảo chính là chỗ dựa vững chắc cho họ vượt qua nghịch cảnh.

Thấu hiểu tâm nguyện ấy, Hòa thượng đã dẫn dắt chúng tôi đi khắp các đạo tràng từ năm 1992 đến 1995. Không có xe hơi tiện nghi, thầy trò dắt dìu nhau đi xe đò loại xe đốt than, thậm chí có bận giảng ở vùng sâu, tôi còn phải xin quá giang xe chở heo để về chùa. Thời ấy chưa có điện thoại di động, sự kết nối hoàn toàn dựa vào cái tâm dấn thân. Nhìn lại thời buổi công nghệ hôm nay, chuyến đi ngày ấy tựa như câu chuyện cổ tích, nhưng với người hoằng pháp, chỉ cần có tâm thì mọi gian khó đều vượt qua.

Quy trình thi lúc bấy giờ rất nghiêm ngặt: thi sơ khảo tại các huyện, thị; vòng chung kết được tổ chức tại thiền viện Minh Đức dưới chân núi Dinh với sự hỗ trợ của cố Thượng tọa Thích Minh Đức. Các thí sinh vào vòng chung kết phải bốc thăm 1 câu hỏi và trả lời trực tiếp trước Ban Giám khảo trong 3 phút, sau đó Hòa thượng Chánh Chủ khảo nhận xét và Ban Giám khảo chấm điểm công khai ngay tại chỗ.

Cách học ngày ấy là tự học, ghi chép tay từ bộ sách Phật học phổ thông 6 tập, đã nhớ là thấm, đã thấm là khắc sâu vào tâm khảm, hoàn toàn khác với cách học nhanh chóng nhưng dễ quên của thời đại công nghệ số hôm nay.

Tiếng chuông chiều và dòng chảy vô thường

Giờ đây, Hòa thượng Thích Giác Hạnh đã bước vào tuổi gần chín mươi, thỉnh thoảng tôi vẫn đến Tổ đình Hội Phước (Bà Rịa) viếng thăm, đảnh lễ và hầu chuyện Ngài mỗi độ xuân về hay lễ lược. Sư Giác Thành thì đã mãn phần hơn mười năm trước, Ni trưởng Hạnh Nghiêm với giọng nói trong trẻo ngày nào giờ cũng đã ngoài bảy mươi, còn tôi cũng đã tròm trèm tuổi sáu mươi.

Nhìn lại bức ảnh xưa, lòng tôi dâng cao niềm xúc động, nghẹn ngào. Vui vì tuổi trẻ đã từng cháy hết mình cho đạo pháp, bâng khuâng vì thân tứ đại nay đã mỏi mòn, không thể ngược xuôi giữa nắng táp mưa dầm như trước nữa. Mọi thứ rồi sẽ trôi theo dòng chảy vô thường của thời gian, chỉ có tình thầy trò, nghĩa pháp lữ và hạnh nguyện dấn thân vì đạo pháp vẫn mãi vẹn nguyên trong tim.

Thích Thiện Thuận