Tôi ngồi yên đó, tận hưởng cảm giác an tịnh tuyệt đối bên người Thầy tâm linh, chỗ tựa nương vững chãi nhất trọn đời mình. Nhưng khi vừa mở mắt định ôm lấy Thầy, tôi nhận ra mình chỉ đang dựa vào chiếc cột trong chánh điện. Tôi bật đứng dậy, nhìn quanh khoảng không tịch mịch mà gọi khẽ:“Thầy ơi…!”
NGÀY TÔI XUẤT GIA
Vạn Thiện, ngày 24 tháng 10 năm 2026
Sáng sớm nay, tôi trở về trụ sở Giáo hội tham dự lễ thuyết giới định kỳ của chư Tôn đức tại Việt Nam Quốc Tự. Sau đó, tôi vội vã sang Tổ đình Vĩnh Nghiêm để dự Lễ khai mạc Pháp hội Niệm Phật ba ngày theo lời mời đột ngột của vị pháp huynh – Thượng tọa Thích Thanh Phong, Trụ trì Tổ đình.
Bước vào chánh điện, tôi không khỏi ngỡ ngàng khi thấy hơn 200 chư Tăng Ni cùng 2.000 Phật tử đang thành kính niệm Phật. Hình ảnh trang nghiêm ấy khiến lòng tôi dấy lên niềm an lạc xua tan đi những nỗi lo thầm lặng về sự mai một của Chánh pháp. Hóa ra, giữa thời đại gấp gáp này, dòng sông Tịnh độ vẫn cuồn cuộn chảy, lòng người vẫn thèm khát tiếng niệm Phật A-di-đà.
Được chư Tôn đức và hội chúng thỉnh cầu, tôi hoan hỷ chia sẻ đôi điều về Phật lý: “Đệ nhị Tổ Tịnh độ tổng – Đại sư Thiện Đạo dạy tôn chỉ hành trì của hành giả Tịnh độ là ‘chánh hạnh’, tức là thực hành trì danh niệm Phật với trọn vẹn niềm tin nơi Đức Phật và nguyện tâm quyết về Tịnh độ ngay trong đời này. Sư bà Hải Triều Âm từng cụ thể hóa lời dạy ấy bằng câu khai thị thật giản dị mà sâu thẳm: ‘Phật không lìa miệng, Phật không lìa tâm, Phật là cứu cánh’… Có như vậy, mỗi hành giả mới có thể kiến lập được Tịnh độ ngay giữa nhân gian.”

1. Món quà trong giấc mơ giữa chiều muộn
Trở về chùa Vạn Thiện vừa đúng 12 giờ trưa, tôi xuống bếp dùng qua bữa cơm thanh tịnh rồi tiếp tục lo liệu các công việc Phật sự cho đến chiều.
Chẳng hiểu sao, sau khi tắm rửa xong lúc 6 giờ tối, một cơn buồn ngủ kỳ lạ ập đến. Tôi định ngồi vào máy tính để thẩm duyệt lại một số văn bản, nhưng đôi mắt cứ sụp xuống, lòng dấy lên chút gợn sóng bâng khuâng khó tả. Tôi tự bảo mình, mệt quá thì ngủ thôi, cố nhướng mắt dật dờ làm gì. Tôi tắt đèn, thả mình nằm xuống chiếc đơn quen thuộc trong gian phòng nhỏ 6 mét vuông.
Một giấc ngủ ngon vô cùng, sâu trôi như chưa từng được ngủ. Cõi mộng mở ra, và tôi mơ thấy Sư ông, vị Thầy Bổn sư thế độ của mình. Người ngồi bên cạnh, ôm tôi vào lòng vỗ về y như những ngày đầu tiên tôi mới chập chững bước chân vào chùa Minh Đạo xuất gia. Nụ cười hiền từ trên gương mặt rạng rỡ nét thanh tịnh của Người làm ấm áp cả không gian, ôm trọn lấy đứa học trò nhỏ, xua tan đi mọi nhọc nhằn và não phiền của kiếp nhân sinh.
Tôi ngồi yên đó, tận hưởng cảm giác an tịnh tuyệt đối bên người Thầy tâm linh, chỗ tựa nương vững chãi nhất trọn đời mình. Nhưng khi vừa mở mắt định ôm lấy Thầy, tôi nhận ra mình chỉ đang dựa vào chiếc cột trong chánh điện. Tôi bật đứng dậy, nhìn quanh khoảng không tịch mịch mà gọi khẽ:“Thầy ơi…!”
Giật mình tỉnh giấc, mới biết đó chỉ là một giấc mơ. Lòng tôi dấy lên niềm tiếc nuối ngẩn ngơ. Giấc mơ ngắn quá, để lại trong tôi sự thèm thuồng một vòng tay ấm áp, một điểm tựa hữu hình nay đã vụt tan theo sương khói. Tôi cố trằn trọc nhưng giấc ngủ không trở lại nữa. Bước đến bàn làm việc, tôi thấy chiếc điện thoại vừa bật sáng. Cầm lên xem, tôi mỉm cười cay cay sống mũi khi đọc tin nhắn của hai đệ tử gửi lời tâm tình, chúc mừng kỷ niệm 37 năm ngày tôi thế phát xuất gia.
Thì ra vẫn có người nhớ đến ngày có ý nghĩa trọng đại này của cuộc đời tôi, dù nhiều đệ tử khác đã quên, và cũng có thể là không biết. Nhưng tôi chẳng chút hờn trách, bởi chính bản thân tôi cũng có nhớ nổi ngày đặc biệt đã thay đổi hướng đi đời mình đâu, trách chi người khác cho thêm phiền lòng.

2. Nghĩa ơn Bổn sư và bến đỗ đời tu
Trong giáo lý Đại thừa, hình ảnh người Thầy tâm linh luôn là ngọn hải đăng sừng sững giữa biển đêm. Kinh Hoa Nghiêm từng ghi lại hành trình của Thiện Tài đồng tử tham học với 53 vị Thiện tri thức, nhưng mỗi bước chân đi đều mang theo ân đức khai sáng của đức Bồ-tát Văn Thù. Hay như Thiền sử từng ghi dấu hình ảnh Nhị tổ Huệ Khả đứng trong tuyết lạnh nơi sườn núi Thiếu Thất xả thân cầu đạo, chỉ mong nhận được một lời an tâm từ Tổ sư Bồ-đề Đạt-ma. Tình Thầy trò trong cửa Thiền không đơn thuần là sự truyền thụ chữ nghĩa, mà là sự tiếp nối truyền đăng, là sự sinh ra một lần nữa trong dòng máu Chánh pháp.
Ngẫm lại đời mình, tôi thấy mình được sinh ra lần thứ hai cũng chính nhờ ơn Thầy:
-
Tôi từng đau khổ tột cùng sau khi chứng kiến người Má kính yêu đột ngột qua đời. Tìm đến cửa Phật mong học cách giải thoát khổ đau, tôi đã được hồi sinh trong Chánh pháp: nhờ ơn Thầy tôi khai hóa.
-
Tôi từng lâm trọng bệnh, nằm trên giường bệnh tưởng chừng không qua khỏi những ngày ở Viện Chuyên Tu thuộc Đại Tòng Lâm, rồi được tái sinh lần nữa nơi Diêm-phù cõi tạm: nhờ ơn Thầy tôi dưỡng nuôi, che chở.
-
Tôi từng mắc sai lầm như bao đệ tử tuổi trẻ: bồng bột, tự mãn, dễ bỏ cuộc, hay hờn trách, buông lung trong tham sân và đắm mình trong lợi danh… Rồi tôi được kéo ra khỏi vũng bùn tanh tưởi của mùi tục lụy ấy khi nhìn thấy Sư ông dù đã hơn 90 tuổi vẫn ngày ngày miên mật trì tụng kinh Kim Cang, chí thành niệm Phật: tất cả đều nhờ ơn Thầy tôi dạy bài học “vô ngôn nhi hành”.
Nhìn lại chặng đường đã qua, tôi càng thấm đượm những lời thơ tràn đầy đạo tình của thầy Thông Huyễn dành tặng Tôn sư Thường Chiếu:
“Giữa sóng biển ngập tràn
Thầy, hòn đảo bình an.
Giữa sa mạc khô khan
Thầy, suối lành trong mát.
Giữa cuộc đời tan nát
Thầy từ ái yêu thương.
Con dẫu nói cho nhiều
Vẫn không sao hết được,
Cả cuộc đời của Thầy
Đem chân lý sáng soi…”

3. Lời bạch từ trái tim người đệ tử
Bạch Thầy!
Đã 37 năm con ở trong cửa đạo, đã hiểu được ít nhiều về nếp sống phạm hạnh của người xuất gia. Giữ mình không hoen ố giữa muôn vàn chướng duyên, thử thách của cõi đời vốn không khó đối với các bậc thượng căn thượng trí, nhưng lại vô cùng khó khăn đối với con, một đứa trẻ khờ khạo từ vùng sông nước miền Tây chập chững bước chân lên đất Sài thành tầm sư học đạo của 37 năm về trước.
Rồi dòng chảy duyên sinh đã cuốn thầy trò mình về Thánh địa Tòng Lâm, nơi mái tranh vách đất thiếu thốn trăm bề của Viện Chuyên Tu ngày ấy… Bao lần thay đổi, mấy độ thăng trầm, Viện Chuyên Tu đã cùng thầy trò ta đi qua biết bao bão bùng của quy luật thành – trụ – hoại – không của tạo hóa. Giờ đây, tóc con không còn xanh nữa, chân con không còn trụ vững, mắt đã mờ và trí không còn nhạy bén như xưa…
Giống như Tôn giả A-nan-da năm xưa khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn, đứng bên gối Thầy mà giọt lệ tiếc thương rơi xuống, con cũng ôm trọn trong lòng một nỗi niềm hoài niệm khôn nguôi. Nhưng có một điều chắc chắn sẽ không bao giờ thay đổi, mãi mãi không phai nhòa theo tháng năm: đó là lòng tôn kính và biết ơn, là tình thương và nỗi nhớ vô bờ con mãi dành cho Thầy.
Nam Mô A Di Đà Phật.
