Câu -Thi -Na (Kushinagar) Nơi ánh dương lịm tắt Sáng nay, ngày 03-12-2016, đoàn chúng tôi tiếp tục chiêm bái “Động Tâm” thứ 2, thành Câu-Thi-Na, nay là Kusinara hay Kushinagar, nằm trong ngôi làng Kasia, thuộc huyện Deoria của bang Uttar Pradesh. Như thường lệ, đoàn thức dậy lúc 5 giờ sáng, dùng điểm tâm vào lúc 5 giờ […]

Câu -Thi -Na (Kushinagar)

Nơi ánh dương lịm tắt

Sáng nay, ngày 03-12-2016, đoàn chúng tôi tiếp tục chiêm bái “Động Tâm” thứ 2, thành Câu-Thi-Na, nay là Kusinara hay Kushinagar, nằm trong ngôi làng Kasia, thuộc huyện Deoria của bang Uttar Pradesh.

Như thường lệ, đoàn thức dậy lúc 5 giờ sáng, dùng điểm tâm vào lúc 5 giờ 30, và khởi hành đi chiêm bái lúc 6 giờ 30. Buổi sáng tinh mơ, khi màn sương vẫn còn ngủ quên, phủ khắp thành phố một màu trắng sữa, đoàn xe gồm 3 chiếc của chúng tôi rời nơi nghỉ The Royal Residency, nối đuôi nhau tiến về khu thánh tích nơi mà cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm,  đức Thế Tôn từ giã cõi trần để vào cảnh giới Niết Bàn vắng lặng.

Con đường chạy dài xa ngái với sương giăng đầy, kín lối, chúng tôi chỉ có thể nhìn được những vết bùn đất khô, hằn lên bề mặt nó như những vết chân dẫn lối lên cõi thiên đường.

Và rồi,  những tia nắng ban mai yếu ớt cũng bắt đầu ló dạng. Cuộc sống như tia nắng mai trong màn sương mù, ngay cả khi phía trước còn mịt mờ, nhưng có ánh sáng là còn có hy vọng.

Những ưu phiền, mệt mỏi trong tôi giống như sương mù lúc sáng sớm, cuối cùng rồi cũng sẽ tiêu tan, khi ánh bình minh quay về. Tất cả cũng chỉ là bản nhạc đệm không lời, như hòa ca cùng tiếng lòng, đồng vọng về cố hương.

Đền Đại Bát-Niết-Bàn (Mahaparinibbana Temple)

20161203_074309

Đoàn chúng tôi mang mỗi người một vòng hoa, và những tấm đại y đã được mang về đây dâng lên cúng dường đức Từ Phụ.

Hiện lên giữa không gian tĩnh mịch và lạnh lẽo là một ngôi đền màu trắng, như báo hiệu sự chia li đã rồi. Trong không gian im lặng, tiếng thở của sự sống trong tôi cũng trở nên nặng nề.

Chúng tôi, không ai nhìn ai, khóe mắt ngấn lệ, thầm lặng bước vào ngôi đền đảnh lễ đức Thế Tôn. Trước mắt chúng tôi là người cha già nằm sâu trong thiền định qua hình hài một tượng Phật nằm nghiêng về bên phải, đầu quay về hướng Bắc.

Trong lúc quỳ sát bức tượng như thể được gần Ngài hơn, chúng tôi thấy, có ba bức tượng điêu khắc nhỏ. Bức tượng đứng gần dưới chân Phật được tin là mô tả ngài Ananda đang khóc u sầu vì biết rằng Đức Thế Tôn sắp đi xa; tượng ở chính giữa là ngài Subhadda, người đệ tử cuối cùng được Đức Phật giáo hóa; và tượng một người tóc dài đứng gần mặt Phật được tin là một người đứng đầu bộ tộc Malla đang đứng lễ viếng Đức Phật.

Chúng tôi như không muốn nhìn xuống nữa, đầu ngước lên, hai hàng nước mắt tuôn trào. Tự trách mình sao mãi trầm luân, trong khi người cha già vẫn đang chờ đợi những đứa con lưu lạc giữa chốn hồng trần nay mới chịu quay về cố hương. Tôi  chợt nhớ đến vầng thơ đầy xúc động của ngài Huyền Trang, cũng đã từng đến nơi đây (vào khoảng năm 635 sau Tây lịch khi ngài đến Ấn Độ du học, thỉnh kinh) sau khi chiêm bái những thánh tích:

Phật tại thế thời ngã trầm luân

Kim đắc nhân thân Phật diệt độ

Áo não tự thân đa nghiệp chướng

Bất kiến Như Lai kim sắc thân.

(Lúc Phật còn tại thế thì con vẫn trầm luân. Nay được thân người thì Phật đã nhập diệt. Buồn tủi vì thân mang nhiều nghiệp chướng. Không thấy được sắc thân của Như Lai.)

Có thể nói, đây là nỗi niềm chung cho tất cả người con Phật trở về đây, khấp bái dưới chân Ngài.

Hình ảnh bên trong ngôi đền:

20161203_070508 img_8455 img_8444 img_8438 20161203_091031 20161203_091007 20161203_073714 20161203_070801 20161203_070539img_8591
Bức tượng đặc sắc mà chúng tôi chiêm bái là bức tượng Phật nằm 1.500 tuổi, được chế tác từ một tảng đá sa thạch màu đỏ, vận chuyển đến từ Mathura trong thời đại Gupta. Bức tượng dài 6.1m được đặt trên một chiếc giường bằng đá dài 7.3m. Chính Ngài Carlleyle đã phát hiện vào năm 1876 trong tình trạng sứt gãy và đã được nối ráp lại một cách thành công cùng với những mãnh vỡ được tìm thấy rãi rác xung quanh. Bức tượng mang 32 dấu tướng tốt của một Vĩ Nhân.

Chỗ mà đoàn chúng tôi dừng lại và đảnh lễ nhiều nhất vẫn là đôi chân của Ngài. Những đứa con còn lung lạc nơi hồng trần về đây đều muốn quỳ xuống và khấp bái dưới chân đấng Từ Phụ. Đôi chân trần ấy, có lẽ đã chai sần quá đỗi khi cha già từng ngược xuôi vùng Bắc Ấn cổ xưa, để mang giáo pháp như những suối cam lồ thanh lương, xoa dịu cái nắng nóng đang thiêu đốt những đứa con còn ham vui trong tam giới.

Hình bức tượng nằm:

img_8483 img_8552 img_8521 img_8513 img_8508 img_8486

Lịch sử ghi rằng, Hoàng Ðế Asoka đến đây đảnh lễ chiêm bái, thánh tích và có cho xây dựng một ngôi bảo tháp. Tháp Parinirvàna Caitya hiện tại được xây cất từ thời đại Gupta (thế kỷ thứ V). Và như vậy, có thể là tháp Asoka đã bị chôn vùi phía dưới công trình này. Ngôi Đền hiện tại đang được viếng thăm được xây bởi chính phủ Ấn Độ vào năm 1956 là một phần của chương trình Tưởng Niệm 2.500 Đại Bát-Niết-Bàn.

Thành Câu-Thi-Na từ ngàn xưa vẫn là một nơi xa xôi, hẻo lánh, dân cư thưa thớt, là những rừng cây Ta-La xa vắng. Nơi đây, không có những vương thành lộng lẫy, những đô thị phồn hoa như thành Savatthi (Xá-vệ), thành Rajagaha (Vương-xá), thành Baranasi (Ba-la-nại)… Nhưng qua đối thoại giữa đức Phật và tôn giả Anan, chúng ta mới biết sự thật về nơi này, và càng thấm thía hơn sự tàn phá của thời gian, của vô thường hủy diệt:

“Bạch Thế Tôn, còn có những thành lớn khác. Một là Chiêm-bà, hai là Xá-vệ, ba là Tỳ-xá-ly, bốn là Vương xá, năm là Ba-la-nại, sáu là Ca-tỳ-la-vệ. Sao Thế Tôn không nhập Niết-bàn ở các nơi ấy, mà quyết định tại thành bằng đất nhỏ hẹp này, một thành nhỏ hẹp nhất trong các thành? Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo: Này A-nan, ngươi chớ nói rằng đây là thành đất nhỏ hẹp, là thành nhỏ nhất trong các thành. Vì sao? Vì thuở quá khứ, thành Câu-thi-na này tên là Câu-thi vương thành, giàu có cùng tột, dân chúng đông đúc.”

Phải chăng, vì lòng đại từ bi, đức Phật muốn kết thúc cuộc hành trình dài 45 năm tại đây?! Ngài muốn tặng cho cư dân thành này một bảo vật thiêng liêng- xá lợi- và xác tín rằng đây là một trong bốn động tâm, để cho ngàn đời sau, Câu-Thi-Na sẽ hưởng phước báu này và được mọi người biết đến?!.

Năm ấy Đức Phật đã 80 tuổi, thân tứ đại của Ngài cũng đã mòn mỏi với thời gian. Cái đêm hôm đó, chắc đức Thế tôn rất mệt vì, Ngài từng ví thân mình như một cỗ xe cũ kĩ,  nhưng với hạnh nguyện độ sanh, ngài không từ nan, vẫn độ người đệ tử cuối cùng, Pushkasa.

Những ngày cuối cùng đi qua thật nặng trĩu. Đức Phật không quên dặn dò, trao gởi, phó chúc trước lúc Ngài ra đi. Dù là một việc cỏn con, Ngài cũng quan tâm nhắc nhở:

“Chuyện sau đây có thể xảy ra, này A Nan. Có người sẽ làm cho ông Thuần Đà bứt rứt khó chịu vì họ cho rằng chính vì Thế Tôn thọ thực lần cuối cùng với các món của ông dâng cúng. Này A Nan, mỗi lần Thuần Đà bứt rứt khó chịu hay hối hận như thế, con phải giải thích như vầy: ‘Này Thuần Đà, ông có rất nhiều phước báu. Ông sẽ hưởng nhiều lợi lộc vì Đức Phật đã thọ thực lần cuối cùng với các vật thực do ông dâng cúng. Này Thuần Đà, bần Tăng có nghe chính Đức Phật dạy rằng có hai vật thực cúng dường đem lại phước báu như nhau, tạo quả bằng nhau, và vô cùng quý báu hơn tất cả. Hai vật ấy là gì? Đó là vật thực cúng dường mà vị Bồ Tát thọ dụng lần cuối cùng trước khi chứng ngộ Đạo Quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, và vật thực cúng dường mà Đức Phật thọ dụng lần cuối cùng trước khi Ngài nhập diệt..’Này A Nan, con hãy an ủi khuyên lơn Thuần Đà như thế ấy!”.

Đọc đến những lời căn dặn này, nước mắt chúng con sao cứ lăn dài trên má. Chúng con cứ than vãn về cuộc sống, ăn không ngon, ngủ không yên, rồi lại ganh tị, hiềm khích, hơn thua đủ điều về tha nhân. Chúng con thật nhỏ nhen, chẳng hề tu học, tất cả chỉ là chót lưỡi đầu môi, đầy mộng mị, mà quên đi thực hành theo hạnh nguyện cao cả của Ngài.

Đúng vậy, chiêm bái các thánh tích là dịp để chúng con suy ngẫm nhiều vấn đề trong cuộc sống. Trong lặng im và suy nghiệm, hành hương là dịp để người ta hiểu sâu hơn về cuộc đời và thân phận con người để sống tốt hơn, cao thượng hơn, vô ngã vị tha hơn.

Đời là dòng suối vô tình mãi êm trôi. Kiếp người thật ngắn ngủi trong dòng chảy miên man đó. Ý thức về sự vô thường ngắn ngủi của kiếp người, nỗ lực vượt lên những điều nhỏ nhặt, đời thường, để tìm tới những gì tốt đẹp hơn, hạnh phúc cho mình và cho người chính là điều Đức Phật đã thiết tha dạy bảo trong suốt 45 thuyết pháp của Ngài.

Với con tim thấm đẫm lòng từ bi, luôn thổn thức về nỗi đau của nhân thế;  với trí tuệ siêu việt của một thánh nhân, với ý chí phi thường của một người anh hùng, Thái tử Sidatta đã ra đi tìm con đường giải thoát, và rồi hành trình của Ngài đã kết thúc tại Câu-Thi-Na này. Có lẽ Câu-Thi-Na là thánh tích để lại trong người hành hương những ấn tượng bùi ngùi và xúc động nhất.

Gạt đi những dòng lệ nhòa, đoàn chúng tôi lên xe hướng về Tháp trà tỳ (Makutabandhana). Từ phía sau, chúng tôi như vẫn nghe lời căn dặn của đấng Từ phụ:

Sabbe saṅkhārā aniccā,
Appamādena sampādetha

(Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường.
Hãy tinh tấn tìm cầu giải thoát!”)

Tháp Trà Tỳ (Makutabandhana)

Sau khi nhập diệt được 7 ngày, thân của Ngài được rước đi qua thành từ cổng phía Bắc ra cửa phía Đông đến đền thờ của người Malla tên là đền Makutabandhana. Họ không thể nào đốt lửa trên giàn thiêu được cho đến khi Ngài Đại Ca-diếp (Maha Kassapa) vào đảnh lễ  Đức Phật. Nghi lễ cuối cùng được thực hiện bởi Ngài Ca-diếp. Sau khi thiêu xác, những xá lợi được chia làm 8 phần bằng nhau, bởi Bà-la-môn tên là Dona, cho 8 bộ tộc thuộc miền Bắc Ấn Độ. Ngài Huyền Trang, người đến đây chiêm bái vào năm 637 sau CN, ghi lại rằng Tháp Niết-Bàn là do Vua Asoka xây dựng nên. Ngài cũng chứng kiến được bên trước Tháp là một trụ đá có ghi lại sự kiện Bát-Niết-Bàn của Như Lai, nhưng nó không ghi rõ ngày tháng.

Hình ảnh tháp trà tỳ:

20161203_091505 20161203_091615 20161203_092119 20161203_092124 20161203_095820

Sau khi nhiễu tháp 3 vòng, đoàn chúng tôi tụng kinh và hồi hướng phước lành đến cho toàn đoàn. Lạy 3 lạy để từ biệt nơi đây, nhưng sao lòng cứ vương vấn. Quả thật, sự chia li nào cũng mang lại sự tiếc nuối, bùi ngùi xúc động.

Với niềm tịnh tín, hoan hỉ, chúng tôi như muốn chia đều cho khắp tất cả. Đoàn chúng tôi ghé qua ngôi trường làng quê, cái  nghèo đeo bám người dân nơi đây từ sau hơn hai ngàn năm trăm năm vẫn thế. Đón chúng tôi là đội kèn trống của trường, và những vòng hoa tươi thắm như kết nối một vòng tròn yêu thương tại thánh địa Câu-Thi-Na này.  Trong sân trường là 500 trăm em học sinh tiểu học dễ thương, hiền lành và đầy cơ cực, chào đón đoàn với nụ cười hiền khô, vô tư trong trẻo đến lạ kì.  Trong chuyến từ thiện này, Phật tử Thiện Bổn đã phát tâm tặng 50 chiếc xe đạp, trị giá 3500 USD, để nâng bước các em đến trường. Các Phật tử còn lại  tặng quà cho các em với một ước nguyện học hành chăm ngoan để trở thành công dân tốt.

Đúng như vậy, đạo Phật là đạo của trí tuệ, lấy trí tuệ làm sự nghiệp, việc đầu tư, quan tâm đến giáo dục, là việc làm thông minh nhất và hiệu quả nhất của các nhà lãnh đạo cũng như những người biết ưu tư cho thế hệ tiếp nối.

Mặc dù lịch hành hương đã phủ kín, nhưng hơn ai hết, chúng tôi hiểu rằng, các em cần lắm những tấm lòng, sự quan tâm chia sẻ từ những nhà hảo tâm; chỉ cần những ánh mắt, những nụ cười khích lệ của thành viên trong đoàn cũng đủ khuyến tấn các em học hành chăm ngoan để trở nên người công dân hữu ích cho cộng đồng.

Đó cũng chính là ân đức của đấng Như Lai đã để lại cho dân chúng trong thành phố này. Đến đây, chúng con đã thấu hiểu được tấm lòng từ bi cao cả của Ngài.

Hình ảnh từ thiện:

20161203_101636 20161203_101625 20161203_101622 20161203_101912 20161203_102306 20161203_102317 20161203_102545 20161203_102747 20161203_103055 20161203_103238 20161203_103258 20161203_103640

Hơn 25 thế kỷ đã trôi qua với bao thăng trầm của lịch sử Phật giáo tại Ấn Độ, số phận của những thánh tích Phật giáo trên miền cố hương cũng theo dòng thịnh suy của thế gian biến chuyển không ngừng; Câu-Thi-Na này cũng đã từng đón bao tấm lòng thành kính, quy ngưỡng của bao thế hệ, từ các bậc đế vương đến thần dân Ấn độ cổ;  và biết bao lần cũng phải chịu sự tàn phá của lòng người khi bị phủ kín bởi tham, sân, si. Giờ đây, Câu-Thi-Na cũng đã thật sự vươn mình, khoát lên một diện mạo mới, tuy không huy hoàng, tráng lệ như thuở xưa, nhưng cũng đủ làm động tâm với bao con tim của hàng triệu Phật tử trên thế giới.

Câu-Thi-Na, ánh dương từ đây vụt tắt. Dẫu biết rằng, sự lặng tắt ở nửa địa cầu này, rồi lại chiếu sáng ở nửa địa cầu bên kia, nhưng làm sao chúng con ngăn được dòng lệ xót?!.

Tạm biệt Câu-Thi-Na, nơi suối nguồn giải thoát tuôn chảy từ kim khẩu của đức Thế Tôn từ đây đã chấm dứt.

Tạm biệt Câu- Thi-Na, nơi trời người rơi lệ tiễn biệt đấng Thiên nhơn sư.

Đạo Nguyên