Khổ Hạnh Lâm Sáu năm sai lầm trong phương pháp tu tập Vào lúc 5 giờ sáng, đoàn chúng tôi rời khách sạn Bodhaya Gautam bằng xe bus để đến đại tháp cho thời kinh sáng. Vì tiết trời đang vào đông nên sương sớm giăng kín khắp lối. Nghĩ cũng lạ, sương không làm […]
Khổ Hạnh Lâm
Sáu năm sai lầm trong phương pháp tu tập
Vào lúc 5 giờ sáng, đoàn chúng tôi rời khách sạn Bodhaya Gautam bằng xe bus để đến đại tháp cho thời kinh sáng. Vì tiết trời đang vào đông nên sương sớm giăng kín khắp lối. Nghĩ cũng lạ, sương không làm ướt áo ai, nhưng đi mãi trong sương thì chiếc áo phong trần ấy sẽ ướt đẫm. Các cảm thọ về dục vọng của con người cũng thế, mới ban đầu tuy len lén nhẹ nhàng, nhưng dần dà về sau, khách trần sẽ bị nhấn chìm trong biển khổ.
Miên mang trong dòng suy tưởng, chúng tôi bỗng giật mình khi cảm nhận được cái lạnh tê cứng từ đá granit được lót trong khuôn viên đại tháp cũng đã thấm đẫm sương rơi. Tiếng kinh cầu râm rang từ các hành giả về đây tu tập như thôi thúc mọi người nỗ lực hơn, tinh tấn hơn trong không gian linh thiêng và trong khoảng thời gian quý báu này.
Tất cả chúng tôi, ai cũng có lời nguyện cầu riêng cho mình, đều mong nguyện sớm được thành tựu. Trong đó, chúng tôi cũng không quên nguyện cầu cho Thầy trưởng đoàn mau bình phục, để tạo thắng duyên cho hàng phật tử tu tập, và mãi được theo dấu chân thầy.
Sau thời kinh, đoàn chúng tôi trở về khách sạn ăn sáng và tiếp tục chiêm bái những nơi lưu dấu của đức Phật.
Vào lúc 8 giờ, sau thời điểm tâm sáng, đoàn chúng tôi chiêm bái Khổ hạnh lâm, nơi đức thế Tôn trải qua thời gian tu hành khổ hạnh ép xác 6 năm.
Nhìn quang cảnh xung quanh, núi đá cheo leo, không có chỗ cho cây mọc, mặc dù đã hơn 2500 năm, trải qua bao biến động địa chất, đổi thay khí hậu nhưng vẫn gợi lên một cảnh tượng khắc nghiệt mà Ngài đã tìm đến tu hành.
Hình ảnh quang cảnh xung quanh:


Như chúng ta đã biết, vào khoảng 600 trước CN, trong xã hội nông nghiệp ở Bắc Ấn với thứ tôn giáo tế lễ đa thần của Bà-la-môn theo kinh Vệ-đà đã nổi lên một phong trào tìm đường lối thoát ra khỏi cái khuôn khổ chật hẹp của đạo giáo lễ nghi và xã hội.
Trạng thái tâm lý đi tìm tự do và kiến thức, nhu cầu hướng đến sự trưởng thành tâm trí, đã lôi cuốn thế nhân, thúc giục hàng ngàn người thuộc mọi tầng lớp (trong đó có sự ra đi tầm cầu của hai ngài Xá-Lợi-Phất và Mục-Kiền-Liên), bỏ hết công việc, giao phó vợ con cho đại gia đình, từ giã túp lều tre, thôn làng, thành thị để chấp nhận đời sống tu tập độc cư, du hành đây đó với kỳ vọng đạt trí tuệ giải thoát.
Đó là một phong trào tư tưởng không có tổ chức, tự rời bỏ tôn giáo truyền thống và đi tìm những cứu cánh tâm linh mới, chấp nhận những con đường mới.
Những người tham gia phong trào tự giải phóng ấy có thể được chia thành bốn loại người tầm cầu cứu độ:
1.Nhóm Aupanisadas (Áo Nghĩa Thư)
2.Nhóm Duy vật luận
3.Nhóm Khổ hạnh hành xác.
4.Nhóm du sĩ hành khất.
Thái tử Gotama đến tiếp xúc với tất cả mọi nhóm này trong một thời gian dài hay ngắn tùy trường hợp, và mỗi nhóm không nhiều thì ít đều đóng góp phần nào vào hệ thống giáo lý của ngài.
Ngược dòng thời gian, cách đây hơn hai ngàn sáu trăm năm, sau khi rời am thất và hội chúng đạo sư Uddaka Ràmaputta, có lẽ ở gần thành Vương-Xá (Ràjagaha), thái tử Siddhattha du hành về hướng tây nam cho đến gần Ưu-lâu-tần-loa (Uruvelà), một thị trấn có thành lũy của quân đội thuộc Đại Vương Ma-Kiệt-Đà (Magadha), ngài thấy “một vùng đất tươi đẹp với khu rừng khả ái và dòng sông trong vắt rất thích hợp để tắm mát và nghỉ ngơi, lại có làng xóm chung quanh để khất thực”. (Kinh Trung Bộ, 26).
Đoạn trên miêu tả khu rừng thái tử Siddhattha đã chọn là “khả ái” , tuy nhiên, nếu tưởng tượng ra một khung cảnh êm đềm thơ mộng trong rừng Ấn Độ thì thực sai lầm. Vào thời đức Phật, các cây rừng bao phủ phần lớn của tiểu lục địa này thay đổi tùy theo miền.
Ở vùng thuộc Bihàr ngày nay, rừng cây hằng năm rụng lá, khô cằn thưa thớt vào mùa hạ và chỉ xanh tươi vào mùa mưa.
Tại địa điểm này trên bờ sông Neranjarà (ngày nay là Nìlajanà) hợp với sông Mohanà để tạo thành sông Phalgu, ngài định trú chân và hành trì khổ hạnh. Vì trước kia, các giáo lý Upanisad và Yoga đã chứng tỏ không thích hợp để ngài đạt tri kiến giải thoát, nên có lẽ khổ hạnh là phương pháp đúng đắn.
Truyền thuyết kể rằng, trong thời gian tu hành khổ hạnh, Ngài sống trong một hang động nhỏ có tên là Dungeswari, nằm ngang dốc lên đỉnh đồi. Chúng tôi leo lên một đoạn dốc đứng, dẫn đến một ngôi chùa nhỏ tên là Chùa Hang Động Dungeswari do những nhà sư Tây Tạng trông nom. Bên trong hang động Dungeswari, có một bức tượng vị Bồ-tát với thân hình chỉ còn lại xương và da. Đó là kết quả của sau 6 năm hành xác, khổ hạnh.
Hình bồ tát khổ hạnh

Thật vậy, thời gian đầu tiên ở rừng quả thật rất khó khăn đối với vị thái tử dòng Sát-đế-lỵ chỉ có ba mươi tuổi từ thành Ca-Tỳ-La-Vệ đến đây tu tập. Và chúng ta hãy nghe lời tâm sự của Ngài:
“…Sự quạnh hiu của rừng già quả thật khó chịu đựng, thật khó tìm an lạc trong đời độc cư. Ban đêm khi ta ở lại những nơi đáng khiếp đảm kia, chỉ một con vật đi ngang qua, hay một con công làm gãy cành cây, hoặc gió thổi xào xạc giữa đám lá, ta cũng đầy kinh hoàng hốt hoảng”. Như ngài kể cho Bà-la-môn Jànussoni sau này, phải cần nhiều thời gian ngài mới có thể khắc phục được nỗi sợ hãi kia bằng tinh thần tự chủ. (Kinh Trung Bộ, 4).
Ngài tiếp tục kể về thời gian tu khổ hạnh tại đây:
“Vì ta ăn quá ít mỗi ngày, nên cơ thể ta trở nên hết sức gầy yếu. Tay chân ta như các lóng tre khô đầy khúc khỉu. Hai bàn tọa của ta trở thành giống như móng trâu, xương sống với cột tủy lồi ra trông giống chuỗi hạt. Xương sườn ta lộ rõ như rui cột của ngôi nhà đổ nát. Đồng tử của ta nằm sâu trong hố mắt thăm thẳm long lanh giống như ánh nước long lanh từ dưới giếng sâu. Da đầu ta khô héo như trái mướp đắng được cắt đem phơi nắng teo róp, nhăn nheo. Nếu ta muốn sờ da bụng thì ta đụng nhằm xương sống vì hai thứ đã dính sát vào nhau. Nếu ta muốn đi đại tiện hay tiểu tiện thì ta ngã úp mặt xuống đất. Nếu ta chà xát tay chân thì đám lông hư mục rụng xuống trong tay ta”. (Kinh Trung Bộ, 12.52 _ Kinh Trung Bộ, 36.21).
Quả thật, hành trình tìm đạo của ngài thật gian nan, hiểm nguy thậm chí có thể mất mạng. Giá như, không có 6 năm sai lầm trong phương pháp tu hành ấy, thì chúng ta sẽ gần với đạo Phật hơn chừng ấy năm. Nhưng chừng đó cũng đủ cho ta hiểu được sự gian nan trên con đường học đạo và trân quý hơn đạo mà chúng ta đang quay về nương tựa. Nhìn lại 6 năm khổ hạnh ấy, trong tôi mọi thứ như nhẹ tênh, chẳng thấm tháp gì với sự cực khổ, thiếu thốn của chúng tôi trên hành trình chiêm bái các thánh tích. Thật đáng hỗ thẹn!.
Bước vào trong hang động, qua một miệng hang nhỏ bé so với thân tứ đại “cồng kềnh” của chúng con, một pho tượng còn trơ xương và da nhưng vẫn toát lên một nghị lực phi thường trên khuôn mặt của bậc siêu nhân. Chúng tôi quỳ lạy trước Ngài, để tạ lỗi cho sự dung dưỡng về ngũ dục đối với bản thân.
Tạm biệt hang động Dungeswari, chúng tôi lại xuống núi để tiếp tục hành trình chiêm bái. Đường xuống núi như gần hơn, mọi người vui vẻ hơn, sau khi chứng kiến quá trình khổ hạnh ép xác của Ngài, bởi nghị lực trong mỗi con người bỗng nhiên trỗi dậy đúng lúc để chiến thắng sự giải đãi trong tu tập.
Tháp tưởng niệm nữ Phật Tử Sujata
Ngôi tháp của nghĩa tình
Điểm chiêm bái tiếp theo trong buổi sáng hôm nay của đoàn chính là ngôi tháp của nàng mục nữ Sujata.
Sau khi trải qua 6 năm tu hành khổ hạnh một cách đau đớn và vô ích, Ngài đã nhận ra rằng: “Bằng phương pháp này, theo đạo lộ này, với khổ hạnh khắc nghiệt này, ta đã không chứng đắc tối thượng cứu cánh của nỗ lực trượng phu, đó là tri kiến thù thắng của bậc Thánh. Tại sao lại không? Ðó là vì ta đã không đạt trí tuệ (pañña), là pháp cao thượng có khả năng hướng dẫn người thực hành đoạn tận khổ đau (giải thoát luân hồi sanh tử)”. (Kinh Trung Bộ, 12.56). Trong khi suy nghĩ sâu xa về đường lối khác này, ngài nhớ lại một sự kiện thuở ấu thơ. Nhiều năm trước kia, khi phụ vương ngài thân hành bước xuống cày ruộng, chính ngài, thái tử Siddhattha, đang ngồi bên bờ ruộng dưới bóng cây đào và đột nhiên nhập vào một trạng thái ly dục ly bất thiện pháp, một trạng thái thiền định (jhàna) đi kèm với tầm, tứ, hỷ, lạc. Có thể nào cách quán tưởng này chính là con đường đưa đến giác ngộ chăng? Từ bỏ núi khổ hạnh, Thái tử lội qua sông Ni -Liên -Thiền hướng về làng Sujata. Nước sông mát lạnh như cổ vũ cho ý tưởng về con đường mới của ngài. Mặc dù được tắm mát, nhưng do thân thể gầy mòn từ lối tu khổ hạnh, Thái tử vẫn mệt lả đi, khi sang đến bờ bên kia. Ngài tìm đến một gốc cây trên bờ và gần như thiếp đi vì mệt.
Gần đấy, mục nữ Sujata, như được mách bảo, ngay từ sáng sớm đã dậy và tự tay mình, cẩn thận nấu món cháo sữa truyền thống để dâng tặng cho những bậc hiền triết và khất sĩ tu hành. Nhìn thấy Sa Môn Cồ Đàm héo mòn lả đi bên gốc cây gần nhà, bà liền cung kính cúng dường bát cháo sữa đầy dinh dưỡng mà mình vừa nấu.
Nhận bát cháo sữa, sau khi thọ xong, Thái tử thấy mình khỏe ra và như muốn quyết tâm tầm đạo theo phương thức mới mà ngài đã chọn.
Khi đoàn chúng tôi đến, trời đổ nắng to, nhưng mọi người vẫn đi kinh hành quanh nền ngôi tháp như để biết ơn bát cháo sữa nghĩa tình năm xưa đã dâng lên nhà tu khổ hạnh Tất- đạt- đa. Nền tháp rất to, thậm chí to hơn những tháp của đệ tử Phật. Giờ đây, ngôi tháp chỉ còn lại nền gạch, đìu hiu trong xóm nghèo như bao đời nay. Nhưng đối với chúng tôi, ngôi tháp là hiện thân của tấm chân tình nơi đây; sự ngợi ca về việc bố thí cúng dường từ những nơi làng quê nghèo, hẻo lánh. Điều đó cho chúng ta thấy đạo Phật rất trân quý nghĩa tình; các bậc tiền nhân luôn đề cao ơn nghĩa giữa người với người. Vì, giả sử, nếu không có bát sữa, liệu chúng ta có được một đấng giác ngộ với một kho tàng giáo lý quý báu như ngày hôm nay không?! Càng đi sâu vào lịch sử văn hóa Phật giáo, chúng ta thấy lòng từ bi, tình yêu thương của đạo Phật có mặt khắp nơi trong đời sống của mọi người nông dân nơi thôn dã và khả năng chuyển hóa của giáo lý Phật đà đối với từng thân phận con người ấy là không hạn lượng.
Hình ảnh:




Sau khi chiêm bái tháp của nàng mục nữ Sujata, đoàn chúng tôi ghé vào một trường học gần bên để tiếp tục “hạnh nguyện của Ngài Cấp Cô Độc” đối với các học sinh nghèo tại địa phương. Nhìn các em nhỏ trong đồng phục học sinh, ánh mắt thơ to tròn, long lanh như chưa hề vướng lấy bụi trần. Chúng tôi như tìm thấy tuổi thơ của mình ở đây, ngay trong lớp học này. Cảm ơn các em đã cho chúng tôi cơ hội để bắt một nhịp cầu yêu thương, quay về với tuổi thơ như để nhắc nhở “hồn thơ ấu” trong mỗi chúng tôi.
“Về đi lữ khách đường xa lắm
Cát bụi sầu thương vướng đã nhiều
Thanh thản ngủ trong lòng đạo cả
Cho hồn thơ ấu được nâng niu”.
(Thích Nhất Hạnh)
Chúng tôi kết thúc buổi chiêm bái sáng nay. Mọi người đều thấy khỏe khoắn hơn vì lộ trình di chuyển ngắn ngủi, chỉ quanh vùng Gaya. Hành trình hôm nay đi để thấy, thấy để sống tốt hơn khi chứng kiến cuộc đời tu hành của đấng Từ Phụ; thấy để yêu thương nhau hơn khi biết rằng, còn bao nhiêu thân phận với mảnh đời cơ cực, vẫn còn loay hoay với miếng cơm, manh áo, huống gì mà nói đến “con chữ” ở trường.
Bữa cơm trưa của chúng tôi vẫn như thường lệ, thức ăn màu vàng nhiều hơn màu xanh, tất cả đã dọn sẵn, nhưng mọi người ai cũng ăn trong niềm hoan hỉ thầm lặng, và ngon miệng hơn nhiều.
Đạo Nguyên