Fri, 12 / 2016 8:47 PM | Ban Biên tập

Bồ-Đề Đạo Tràng (Bodhgaya)

Nơi khai sinh ra Đạo Phật

Từ sáng sớm, đoàn hành hương Phật tử Viện Chuyên Tu chúng tôi đã có mặt tại khu thánh tích Bồ-Đề Đạo Tràng. Có thể nói, Bồ-Đề Đạo Tràng là một “động tâm” mà bất cứ khách hành hương nào cũng muốn đến chiêm bái và ở lại lâu nhất. Sáng sớm mai, khi dân chúng quanh vùng vẫn còn vùi sâu trong giấc ngủ sớm, nhưng đối với khách hành hương là thời khắc linh thiêng, an lành, và thanh khiết nhất trong ngày để đảnh lễ chiêm bái. Đoàn chúng tôi phải mất một thời gian quý báu để trải qua các thủ tục kiểm tra an ninh, vì Bồ-Đề-Đạo-Tràng đã từng là mục tiêu đánh bom của những kẻ cực đoan.

Ngay từ trước cổng đại tháp, chúng tôi đã nghe văng vẳng tiếng kinh cầu:

Buddham Saranam Gacchami

Dhammam Saranam Gacchami

Sangham Saranam Gacchami

(Con xin Nương tựa vào Phật

Con xin Nương tựa vào Pháp

Con xin Nương tựa vào Tăng).

Một cảm giác thực sự rung động và như được quay về nương tựa nơi đây.

Màn sương giăng kín không gian, pha lẫn với ánh đèn vàng vọt, làm cho không khí tu tập ở đây trở nên linh thiêng và đầy xúc cảm. Từ bên ngoài cổng, các em nhỏ  địa phương đã mang hoa súng hay những vòng hoa vạn thọ, chuẩn bị sẵn bán cho những khách hành hương để dâng cúng bên trong trong thánh tích. Chúng tôi, ai cũng chọn cho mình một cành hoa tươi thắm, và vòng hoa đẹp để dâng lên đấng Thế Tôn.

Trước mặt chúng tôi là đại tháp cao sừng sững, uy nghiêm và bề thế nhất trong các thánh tích chúng tôi đã từng chiêm bái. Nét thành tâm, chí thành, chí kính thể hiện rõ trên từng khuôn mặt của những ai hiện diện nơi đây. Dường như ai cũng tranh thủ từng phút giây quý báu để lễ bái, tu tập, tĩnh tọa giữa không gian linh thiêng từ ngàn đời nay.

Tháp Đại Bồ-Đề đương nhiên là một công trình huy hoàng và nổi bật nhất trong khu vực Thánh Địa Bodhgaya. Tháp cao 52m, mỗi cạnh vuông là 15m, bao gồm một tháp lớn hình kiểu kim tự tháp và 4 tháp nhỏ nằm ở 4 góc, là những mô hình thu nhỏ của tháp lớn. Để có một công trình tâm linh vĩ đại như chúng ta thấy ngày nay, đại tháp đã trải qua các thời kì tu sửa. Vua Asoka là người đầu tiên xây tháp thờ nơi thánh địa này từ chuyến chiêm bái vào năm 259 trước CN.

Ngài Cunningham cho rằng, toàn bộ Tháp Đại Bồ-Đề, như được thấy ngày nay, chủ yếu là công trình của Vua Huviska (năm 111-138 sau CN). Vì tháp được xây dựng lại trên cơ sở nền tháp nguyên thủy của vua Asoka, nên Tòa Kim Cương (Vajrasana Throne), vị trí ngồi thiền và Giác Ngộ của Đức Phật, vẫn được giữ nguyên như nguyên thủy. Tuy nhiên, vài ý kiến cho rằng: ngôi đại tháp đã có thể được xây khoảng thời gian giữa hai nhà chiêm bái Trung Quốc, từ giữa năm 400-636, nghĩa là vào khoảng thời gian sau khi ngài Pháp Hiển  đến và trước khi ngài Huyền Tráng đến chiêm bái. Ngài Pháp Hiển có đến đây chiêm bái nhưng người ta vẫn không thấy Ngài đề cặp ngôi đại tháp trong kí sự của mình. Nhưng đến lúc Ngài Huyền Trang đến đây chiêm bái, thì ngôi đại tháp rất khang trang và đẹp. Rõ ràng, phải mất nhiều năm mới xây được ngôi tăng-già-lam này, có thể công tác xây dựng bắt đầu ngay sau khi Pháp Hiển rời Ấn Độ trở về Trung Hoa vào năm 414.

Vào thế kỷ 7, việc trùng tu đã được thực hiện và gắn thêm những phiến đá ba-zan xây trên tòa cũ bằng thạch cao. Vào thế kỷ 19, cuộc đại trùng tu được tiến hành, dưới sự giám sát của những nhà chuyên môn Cunningham, Beglar và R. L. Mitra, khôi phục lại Tháp Bồ-Đề, sau nhiều thế kỷ bị tàn phá bởi những người Hồi giáo và sự bỏ lơ của những Mahant ngoại đạo.

Dù niên đại ghi chép về việc trùng tu ngôi đại tháp nguy nga này vẫn còn nhiều điều để nói đến, nhưng công trình đồ sộ, huy hoàng mà chúng ta nhìn thấy hôm nay là kết quả của những tấm lòng mộ đạo và những sự đóng góp tài vật vô cùng cao quý của Phật tử từ bốn phương.

Hình đại tháp và các khu vực xung quanh:

Ngay sau khi tiến vào đại Chánh Điện, chúng ta sẽ gặp ngay một tượng Phật bằng đá mạ vàng được làm từ thế kỷ 10 sau CN, trong tư thế ngồi với tay phải tiếp đất (bhumi phassa-mudra) trong ngày Giác Ngộ.

Chỉ cần ngắm nhìn bức tượng thôi, trái tim của người hành hương chắc chắn sẽ khởi sinh niềm hoan hỷ và thành kính!. Tuy nhiên, nhiều người đã không biết được rằng bức tượng này- từng là kiểu mẫu, cảm hứng điêu khắc của bao nghệ nhân trên toàn thế giới- trước đây được đặt trong khu vực của Mahant (đạo sĩ đạo Hindu, người đang cai quản Tháp Đại Bồ-Đề). Sau đó, theo yêu cầu của Ngài Cunningham và Beglar, bức tượng đã được dời qua đặt tại vị trí hiện tại trong Chánh Điện. Nhờ công đức và sự can thiệp của 2 người đáng kính này, bức tượng đã được an vị vào nơi đúng đắn ở Chánh Điện cho những người hành hương sau này được chiêm bái, thay vì như trước đây bị lãng quên, lãng phí ở trong bên khu vực của Mahant đạo Hindu.

Sau những giây phút suy tư, tắm mình trong từ trường thiêng liêng của đại tháp, đoàn chúng tôi đã có thời kinh và đi nhiễu tháp ba vòng.

Trong niềm hoan hỉ vô biên, chúng tôi tiếp tục đi chiêm bái và đảnh lễ những nơi Đức Phật đã trải qua bảy tuần sau khi giác ngộ tại Bồ-đề Đạo Tràng như :

  1. Tháp Animeslochana: còn gọi là “đền không chớp mắt”, đánh dấu nơiĐức Phật đã trải qua 7 ngày vào tuần thứ hai sau khi giác ngộ, để ngồi nhìn chăm chú vào cội bồ-đề với ánh mắt biết ơn cây đã che chở cho Ngài suốt thời gian
  1. Trụ Chankramenar: Chạy dọc theo hành lang phía bắc củađại tháp là một bệ xi-măng, dài 18,2 mét và cao 0,9 mét; có 18 hình hoa sen khắc nổi lên trên nền để đánh dấu vào tuần lễ thứ ba Đức Phật đã đi kinh hành và 18 hoa sen là hình tượng hóa bước chân Phật trong tuần lễ thứ 3 này. Con số 18 cũng được biểu trưng cho 6 giác quan, 6 đối tượng giác quan, và 6 loại nhận thức.
  1. Đền Ratnagraha: là một ngôi đền nhỏ không mái,đánh dấu nơi Ngài ngồi thiền trong tuần thứ tư. Khi Ngài ngồi nơi đây thì thân Ngài tỏa ra những luồng hào quang màu xanh, vàng, đỏ, trắng và cam.
  1. Cây Nigrodha (Ni –Câu- Đà): Trong tuần thứ năm,Đức Phật đã ngồi thiền dưới cây này và một người Bà-la-môn đã đến vấn nạn Thế tôn thế nào là ý nghĩa của Bà-la-môn. Đức Phật đáp rằng một người không phải khi sanh ra là Bà-la-môn mà chính là khi chết đi việc ấy mới quyết định tùy theo nghiệp mình đã làm trong đời này.
  1. Hồ Rồng Muchalinda: Nơi vua rồng Muchalinda đãhiện lên lấy thân quấn mình Đức Phật và đầu làm tràng cái để che chở cho Ngài khỏi bị mưa gió làm ướt, khi Đức Phật đang ngồi thiền vào tuần lễ thứ sáu.
  1. Cây Ravyatna: Trongtuần lễ thứ bảy sau khi thành đạo, Đức Phật đã ngồi dưới cây này để thiền định và nhận đồ cúng dường từ những vị thương gia cũng như của bốn vị vua trời.

Đại tháp Bồ-đề (the Maha Bodhi Temple) là nơi gắn liền với những dữ kiện giác ngộ của Đức Phật. Nói một cách cụ thể, có ba vật liên kết chặt chẽ với sự chứng ngộ của Ngài là ngôi đại tháp (Maha Bodhi Temple), cây Bồ-Đề thiêng liêng (Bodhi tree) và tòa Kim cang (Vajrasana).

Cây Bồ-Đề

Theo Ngài Huyền Trang, Cây Bồ-Đề đầu tiên lại bị chặt phá bởi Vua Asoka, nhưng sau này, nhà Vua ân hận, đã chăm bón lại Cây Bồ-Đề bằng cách tưới tẩm nước hương thơm và sữa tươi vào rễ cây. Trải qua nhiều biến cố, cho đến năm 1876, Cây Bồ-Đề già bị ngã đổ trong một trận bão và một cây con của Cây Bồ-Đề được trồng lại chính ngay chỗ cũ bởi Ngài Cunningham. Đến nay, Cây Bồ-Đề này đã 140 tuổi, được cho là thế hệ thứ 26 của cây Bồ-Đề  đầu tiên.

Hình cây bồ đề:

Tòa Kim cang (Vajrasana)

Dưới cội Bồ đề là tòa kim cang được bảo quản cẩn mật, càng làm tăng thêm sự tò mò và đầy linh thiêng huyền bí nơi đây. Theo quan sát của chúng tôi, Tòa Kim Cương (Vajrasana) nằm giữa Cây Bồ-Đề và Tháp Đại Bồ-Đề. Hiện nay, chỗ này được đánh dấu bằng một tảng đá sa thạch đỏ, dài 2.3m, rộng 1.3m và dày 0.9m.

Cũng như những thánh tích khác, Vua A Dục cũng dựng trụ đá ở nơi đây. Có ba trụ nhỏ do vua A Dục dựng ngay cổng ra vào của đại tháp và một trụ lớn ở trước hồ rồng Muchalinda. Xung quanh thánh tích, chúng tôi còn thấy có vô số những kiến trúc tháp nhỏ, bé, vừa, trung ở chung quanh tháp làm nổi bật sự uy nghi của đại tháp. Đặc biệt những tháp này do những vị vua chúa, quan viên, đại thần trải qua các triều đại khác nhau xây tháp để cúng dường hay để tạ ơn Đức Phật sau khi họ đã thành tựu ước nguyện một việc gì đó trong cuộc sống.

Ngoài ra, xung quanh đại tháp là hàng rào bằng đá có từ năm 100 trước Tây Lịch được xây dựng dưới triều vua Sunga. Đó là bằng chứng khảo cổ xưa nhất ở Bồ- Đề Đạo Tràng, nhưng chỉ có một phần ba được đặt tại thánh tích, phần còn lại đang được lưu giữ ở Calcutta và London.

Ngôi đại tháp là một di sản tinh thần cho hàng trăm ngàn Phật tử cả tăng lẫn tục, những khách hành hương từ các nơi trên thế giới đã đến Bồ-đề Đạo Tràng để cầu nguyện và tu tập. Ở đây, Phật tử cứ mỗi buổi sáng dâng hoa, cúng nước, buổi tối đến, đốt nến, thắp đèn để cầu nguyện cho mình, cho tha nhân, cho một thế giới hòa bình. Tất cả như lan tỏa một tinh thần tu tập đầy nhiệt tâm, tinh tấn, ra khắp khu di tích.

Dù chân lý cao siêu nhiệm màu đến mấy, thì yếu tố vô thường luôn là điều nhắc nhở chúng ta tu tập. Cũng trong tinh thần đó, Tổ Tố Liên, khi đến lễ bái Tháp Đại Giác ở Bồ Đề đạo tràng cũng đã xuất cảm mấy vần thơ:
“Ta nay là khách ngoại trần
Đứng trên cõi mộng mấy vần gửi ai
Gửi ai là khách quan hoài
Việc đời muôn sự có rồi lại không
Gửi ai là khách cửa không
Việc đời điên đảo bận lòng làm chi
Gửi ai là khách đắc thì
Việc đời chớ để những gì mỉa mai
Gửi ai là khách lỡ thời
Việc đời bày xóa xóa thôi lại bày
Cuộc đời ai tỉnh ai say
Cảm hoài đọc mấy câu này làm duyên”.

Chúng tôi đi nhiễu tháp một vòng như để kết thúc một thời khóa tu học cho buổi sáng. Cây Bồ Đề thiêng vẫn vươn dài cánh tay như che chở nhân loại trong thế giới vô thường này. Những chiếc lá bồ đề mùa đông hiếm hoi rụng trên bước chân khách hành hương; cúi xuống, hai tay nâng niu nhận lấy, một món quà tâm linh vô giá, đầy bất ngờ như người Cha già muốn trao tặng.

Buổi chiều cùng ngày, đoàn chúng tôi dành thời gian chiêm bái và tham quan các ngôi chùa gần khu thánh tích như là cơ hội trải nghiệm tâm linh, học hỏi và có cái nhìn tổng quát hơn về văn hóa Phật giáo của các nước trên thế giới.

Điểm chúng tôi thăm viếng đầu tiên là chùa Hoàng Gia Butan. Đây là ngôi chùa do đức Vua Butan xây dựng để cúng dường lên đức Thế Tôn. Ngôi chùa mang đậm nét truyền thống Phật giáo mật tông và thể hiện văn hóa xứ sở này một cách đặc sắc. Trong chánh điện, các bức tranh được đắp vẻ bằng đất sét rất công phu, mô tả cuộc đời của đức Phật, cũng như đề cập đến các lĩnh vực khác nhau của văn hóa Phật giáo.  Tất cả là những câu chuyện lịch sử, mang tính giáo dục, khuyến thiện cho người xem. Có thể nói, những hình ảnh trong chánh điện là một tuyển tập các bài kinh thật sinh động và dễ cảm hóa lòng người.

Điểm tham quan tiếp theo của đoàn là chùa Nhật Bản. Hấp dẫn và ấn tượng ngay từ đầu của ngôi chùa này là tượng Phật lớn, uy nghiêm  cao gần 27 mét. Được biết bên trong đại Phật này là 20 ngàn pho tượng bằng đồng nhỏ. Đây là một trong những bức tượng cao nhất Ấn Độ và được làm lễ lạc thành vào năm 1989 dưới sự chủ trì của Ngài Dalai Lama thứ 14.

Hai bên tả hữu, là mười pho tượng của các vị đại đệ tử Phật, được đặt trên bệ đá cao, như đang đứng hầu đức thế Tôn. Công trình tuyệt mỹ này chỉ sử dụng đá sa thạch và đá Gra-nít đỏ.

Chiêm bái khu này, chúng tôi ai nấy đều thán phục với công trình bề thế của người Nhật. Có thể nói, đóng góp của Phật giáo Nhật Bản đối với cố hương là vô cùng to lớn và đầy ý nghĩa. Đoàn chúng tôi lòng thành dâng lên Phật đài những đóa hoa tâm, như muốn góp phần vào vườn hoa Phật giáo tại Bồ- Đề-Đạo Tràng ngày một thêm ngát hương.

Hình ảnh

Chùa Việt Nam- Việt Nam Phật Quốc Tự

Chùa Việt Nam được xây dựng trên đất Phật là một niềm tự hào đặc biệt lớn lao cho Phật giáo Việt Nam. Trụ trì Việt Nam Phật Quốc Tự là thầy Huyền Diệu (Người dân trong vùng gọi thầy là Doctor Lâm, vì thế danh của Thầy là Lâm Trung Quốc và tốt nghiệp tiến sĩ thần học ở trường Đại học Sorbone).

Tháng 05/1987, thầy Huyền Diệu bắt đầu tiến hành xây dựng một ngôi chùa 3 tầng, trên khuôn viên rộng 3,5 ha và đặt tên “Việt Nam Phật Quốc Tự”. Chùa được khánh thành vào ngày 12/01/2003.

Không gian xung quanh chùa bát ngát một màu xanh, như chốn tòng lâm thưở xưa, thời đức Phật. Chúng tôi đặt biệt ấn tượng với việc sưu tầm và bảo quản các loại cây gắn liền với cuộc đời của đức Thế Tôn. Cây Simsapa mà Đức Phật đã hái nắm lá để chỉ cho hàng Thánh đệ tử về giáo pháp của Ngài đã chứng đắc nhiều như lá trong rừng, và những gì Ngài thuyết giảng chỉ bằng như nắm lá trong tay của tôi vậy…”. Cây quan trọng không kém đó là cây Long-Hoa (Nagarsana) mà Đức Phật đã thọ ký cho ngài Di-lặc sẽ ngồi dưới cội cây này thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trong tương lai. Thú vị như loài cỏ Kusa (cỏ kiết tường), mà người nông dâng đã dâng cúng đức Phật dùng để ngồi thiền. Chúng tôi còn nhận thấy trong vườn chùa còn có nhiều loại cây khác như: Trúc (được đề cặp trong Trúc lâm Tinh Xá), Ta-la Song thọ (tại thành Câu-Thi-Na, nơi đức Phật Nhập Niết Bàn), Ashok (cây Vô Ưu, đức Phật Đản sanh dưới cội cây này) … đã được chăm sóc cẩn thận. Tất cả được gìn giữ như một di sản vô giá của Phật giáo.

Chúng tôi dạo bước trong vườn cây quý, thật mát mẻ, thân thiện và thanh bình như cảm giác đang ở quê nhà. Ngồi uống một ngụm trà xanh trong một không gian yên tĩnh, khiến khách trần như muốn từ bỏ mọi triền phược của cuộc đời để chăm lo kiến tạo một tịnh độ nhân gian ngay giữa đời này.

Mái chùa cong vút lên không gian, bảo tháp uy nghiêm giữa rừng thiền, đâu đâu cũng thấy bản đồ Việt Nam được khắc chạm, niềm tự hào của người Việt xin được trang trí trong vườn hoa tâm linh, quê hương của đấng Từ Phụ.

Điểm tiếp theo mà đoàn chúng tôi ghé thăm đó là Trung Tâm Tu Học Viên Giác, do pháp Huynh của Thầy Hạnh Bảo trụ trì, Thầy Thích Hạnh Nguyện. Đây là ngôi chùa Việt Nam thứ hai được xây dựng tại Bồ Đề Đạo Tràng, từ năm 2000 và khánh thành vào năm 2002. Kể từ đó, Trung tâm Viên Giác đã đóng góp cho nền Phật giáo nước Việt một ngôi chùa, một biểu tượng, một hình ảnh đẹp của văn hóa Phật giáo Việt Nam trên đất Phật.

Sau khi lễ Phật, đoàn chúng tôi có chương trình phát quà cho đồng bào nghèo quanh vùng như để chia sớt nỗi cơ cực của những người nghèo khó trước sân chùa Viên Giác.

Cái khổ, cái nghèo nơi đây đã làm cho con người quanh vùng mất đi sự kiên nhẫn, sự nhường nhịn cần thiết. Chúng tôi lại nhớ đến câu chuyện về bữa ăn của chúng sinh ở địa ngục và cõi người. Với đôi đũa dài gần 2 mét, mỗi khi chúng sinh ở địa ngục gắp thức ăn và đưa vào miệng của mình rất khó khăn và trở thành cơ hội cho kẻ khác, và thường bị chúng sinh khác giành dựt và ăn hết. Cảnh hỗn độn luôn diễn ra trong bữa ăn đúng như cảnh giới của họ. Trong khi ở cõi người, với sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, họ vẫn dùng đôi đũa dài ấy gắp cho nhau ăn, và như thế, ai cũng được ăn, tất cả sống trong sự chan hòa, hòa thuận, và được ấm no.

Một chuyến làm từ thiện cũng đã giúp cho chúng tôi nhận ra, luôn có sự tồn tại địa ngục và “thiên đường”, sự tồn tại song hành giữa cái thiện và cái ác. Phật giáo không hứa hẹn với bất cứ ai một thiên đường, hay hù dọa ai một địa ngục.  Những gì đạo Phật nhắm đến đó là sự chuyển hóa ba độc tham sân si đã làm cho con người trở nên khô cằn, nghèo khó, hẹp hòi, bon chen… trở thành một thế giới biết yêu thương, quan tâm chăm sóc nhau nhiều hơn.

Tất cả chúng tôi đều tâm niệm rằng:

“Sau khi chết, những gì ta xài sẽ hết

Những gì ta chưa xài, người khác xài

Ta chỉ mang theo những gì chúng ta cho”.

Quả đúng như vậy, chúng ta cho nhau tình thương, sự quan tâm, sự chia sẻ, sự cảm thông, thì những ân tình đó, hay những phước ấy chúng ta mới thật sự mang theo trên suốt hành trình tiếp theo.

Hình trung tâm Viên Giác

Thánh tích Bồ Đề Đạo Tràng thiêng liêng đang còn đó, những ngôi chùa đậm nét văn hóa của mỗi quốc gia vẫn đang hiện hữu xung quanh đây. Tất cả đang chờ những người con xa cố hương, để mau trở về với tổ ấm thiêng liêng. Cầu chúc cho tất cả “tiếng vọng” ấy có đủ duyên lành để kết nối cố hương.

Đạo Nguyên

Bài viết cùng chuyên mục