Tỳ-Xá-Ly (Vaishaly), nơi thành lập Ni đoàn Hôm nay, đoàn chiêm bái Phật Tích của Viện Chuyên Tu đã bước sang ngày thứ 5 trên đất Phật. Đoàn xe chúng tôi rời khách sạn The Vaishali Residency lúc 6 giờ sáng và miệt mài chạy trên con đường sương giăng kín, đầy bụi bặm. Đời […]

Tỳ-Xá-Ly (Vaishaly), nơi thành lập Ni đoàn

Hôm nay, đoàn chiêm bái Phật Tích của Viện Chuyên Tu đã bước sang ngày thứ 5 trên đất Phật. Đoàn xe chúng tôi rời khách sạn The Vaishali Residency lúc 6 giờ sáng và miệt mài chạy trên con đường sương giăng kín, đầy bụi bặm. Đời người giống như màn sương mù lúc bình minh, tuy rằng ngắn ngủi, mê mang nhưng cuối cùng cũng tan biến khi ánh dương ló dạng.

Đồng ruộng bao la nhưng rất cằn cỗi như người nông dân ở đây. Dường như hệ thống sông ngòi của Ấn Độ chắc không đủ nước cho những ruộng đồng bạt ngàn của miền quê. Những cánh đồng khô cằn ấy, chúng tôi vẫn thấy những cây cổ thụ hàng trăm năm, cành lá vẫn sum xuê, như thách thức với thời gian. Qua bao ngày rong ruỗi trên miền cố hương, chúng tôi chợt nhận ra rằng, những cây cổ thụ thường lớn lên từ những nơi khô cằn. Con người cũng thế, họ thật sự vững chãi, lớn lên, và trưởng thành hơn trong sự khó khăn, gian nan nguy khó của cuộc sống.

Cũng giống như những thánh địa khác trên quê hương Cha, sau cuộc chiêm bái của ngài Huyền Trang, lịch sử của Tỳ-Xá-Ly chỉ là tờ giấy trắng, rơi vào quên lãng suốt 12 thế kỷ. Thành cổ Veshali nằm trên đống tàn tích, không ai biết đến cho đến tận cuối thế kỷ 19, khi Ngài Sir Cunningham đi khảo cổ và đã xác định được di tích nằm trong và xung quanh địa danh Basrah (vào thời Cunningham), thuộc huyện Muzaffapur, bang Bihar.

Tỳ-Xá-Ly (Vesali hay Vaishali) trước đây là kinh đô của bộ tộc người Licchavi hay người Vajjis (Bạt-kỳ), là thủ đô của một nền liên bang Bạt-kỳ gồm 8 bộ tộc. Trong đó, bộ tộc Bạt-kỳ (Licchavi) và Videhan là quan trọng nhất. Đây là một nền cộng hòa đầu tiên trên thế giới, được xây dựng theo 7 điều luật qui định cung cách ứng xử của họ (satta Aparihaniya dhamma) hay còn gọi là 7 điều kiện để dẫn đến những phúc lợi của mọi người, do Đức Phật giảng dạy khi Ngài lưu trú tại đền thờ Saranda ở Tỳ-Xá-Ly.

Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, liên bang Bạt-kỳ đã bị đánh bại và thâu tóm bởi vua Ajatasattu (À-xa-thế), và sau đó ông bị vua con của mình là Udayibhadda giết chết và dời kinh đô từ thành Vương-Xá (Rajgir) về Hoa Thị Thành (Pataliputta), nằm ở bên kia bờ Sông Hằng của thành Tỳ-Xá-Ly. Theo Đại Sử Tích Lan (Mahavamsa), triều đại Udayibhadda lại được tiếp ngôi bởi 3 thế hệ những ông vua con nghịch tử giết vua cha. Đó là những vua: AnuruddhaMunda và Nagadasa, tất cả mỗi người đều giết vua cha để đoạt ngôi, theo như một cách gia truyền. Một bài học sâu sắc về nhân quả báo ứng trong lịch sử Ấn Độ thời bấy giờ.

Đức Phật đã đến Tỳ-Xá-Ly một số lần, và Người đã ở lại đây qua 2 mùa An Cư thứ 5 và thứ 44. Nhiều nhà quý tộc người Licchavi đã trở thành những đệ tử của Phật. Lúc bấy giờ, thành Tỳ-Xá-Ly có xảy ra nạn dịch bệnh, chết đói và ma quỷ, những nhà quí tộc Licchavi đã thỉnh cầu Đức Phật đến giúp họ vượt qua cơn hoạn nạn. Đức Phật đã đến giảng bài Kinh Ratana Sutta (Kinh Châu Báu) và chỉ dụ cho ngài Ananda đi khắp kinh thành tụng đọc để hộ niệm, bảo vệ cho mọi người. Sau đó, Đức Phật tụng đọc kinh này 7 ngày và tất cả dịch bệnh đã được giảm đi. Một hình thái  cầu an đã hình thành ngay từ thời Đức Phật.

Tỳ -Xá- Ly là một trong những trung tâm Phật giáo vững mạnh vào thời Đức Phật còn tại thế. Ngày trước, nơi đây đã từng là một kinh thành trù phú, một trong những nước Cộng Hòa thịnh vượng nhất trong vùng Bắc Ấn. Bấy giờ,  dân cư đông đúc, đời sống sinh hoạt sung túc, nhưng hiện nay nó chỉ là một thị trấn nhỏ bé nghèo nàn.

Trong Đại-phẩm (Mahavagga) và Tiểu-phẩm (Cullavagga) cho thấy có nhiều quyết định quan trọng về giáo pháp và giới luật được Đức Phật tuyên thuyết tại Tỳ-xá-ly.

Thành phố Tỳ Xá Ly còn là quê hương của Ngài Duy Ma Cật, một vị cư sĩ nổi tiếng mà Đức Phật đã đề cập như một nhân vật giác ngộ chính trong Kinh Duy Ma Cật. Thành phố này còn là nơi nhận một phần tám xá lợi của Đức Phật ngay sau lễ Trà Tỳ của Ngài. Những năm trước khi nhập diệt, Đức Phật thường hay trú ngụ tại thành Tỳ- Xá-Ly này. Và đây cũng chính là nơi ngài A Nan nhập diệt.

Chính tại đây ngài tuyên bố sẽ nhập Niết bàn. Một sự kiện lịch sử quan trọng khác xảy ra tại thành Tỳ- Xá -Ly vào thời Đức Phật là bà Di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahapajapati Gotami) đã được Đức Phật cho phép xuất gia và thành lập Ni đoàn đầu tiên. Và cũng chính tại đây, Đức Phật đã cho phép Ni đoàn thu nhận nàng Amrapali, một ca nhi bị xã hội khinh khi nhất vào thời đó. Một sự kiện lịch sử quan trọng nổi bậc khác diễn ra tại đây, đó là 100 năm sau ngày Đức Phật nhập Niết Bàn, cuộc kết tập kinh điển lần thứ hai đã diễn ra, do trưởng lão Da- Xá (Yassa) triệu tập 700 chư Tăng từ khắp nơi về đây. Từ đó mới bắt đầu phân ra Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ.

Như không thể chờ thêm được nữa, đoàn chúng tôi nhanh chóng hướng về trung tâm của thánh tích. Vút lên giữa không gian lộng gió, chúng tôi bị ấn tượng với trụ đá Vua A Dục bằng đá sa thạch nguyên khối dường như còn nguyên vẹn, được mài bóng với tượng hình sư tử gắn trên đầu hướng về phương Bắc, Câu-Thi-Na (Kushinagar), nơi Đức Phật sắp nhập Niết Bàn.  Chiều cao trụ đá khoảng 6.7 m trên mặt đất, với một phần lớn của trụ đá lún xuống mặt đất sau thời gian dài. Chúng tôi tìm xem không thấy khắc ghi gì cả, nhưng đây là một trong những trụ đá mà Vua A Dục đã dựng lên để tưởng niệm những thánh tích trong suốt chuyến hành hương của ông từ thủ đô Hoa-Thị-Thành (Pataliputta) đến Lâm-Tỳ-Ni (Lumbini) từ năm 250-249 trước CN.

Hình ảnh trụ đá:

dsc_7129

Gần trụ đá Vua A Dục có một hồ nước khá lớn. Hồ nước vẫn trong xanh, và tĩnh lặng như bao hồ nước mà chúng tôi từng ghé thăm ở các khu thánh tích. Nhưng tại đây lại ghi dấu một sự kiện đáng nhớ và đầy cảm động. Tương truyền đây là cái hồ do 500 con khỉ đào cúng dường cho Đức Phật để Ngài tắm giặt hằng ngày trong thời gian Ngài lưu lại thành Tỳ- Xá- Ly, và cũng chính tại đây ngày ngày đàn khỉ đều mang mật ngọt đến cúng dường cho Đức Phật.

Hình ảnh Hồ nước:

dsc_7125

Cách trụ đá A Dục khoảng 2 cây số là ngọn tháp kỷ niệm nơi Đức Phật an trú hằng ngày. Tháp đã bị hư hại gần hết, chỉ còn trơ lại nền tháp nên người ta cho xây dựng mái che bên trên để bảo vệ phần còn lại của ngôi phế tháp này. Chính nơi này Đức Phật đã dạy Tăng đoàn về pháp Lục Hòa (6 pháp hòa kỉnh) và Thất Diệt Tránh Pháp (bảy pháp không tranh cãi).

Ngồi nhìn trụ đá thật lâu, chúng tôi cũng nhận ra rằng, con sư tử trên trụ đá như cũng vọng về Thành Câu-Thi-Na bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn với sự kiện Đại Niết Bàn của đấng thiên nhơn sư. Đâu đây, chúng tôi vẫn nghe tiếng lòng của Ngài về cuộc hành trình của kiếp người suốt 80 năm: “Cuộc đời của một kiếp qua đi thật nhanh, mới ngày nào đây chàng thiếu niên Tất Đạt Đa còn trai trẻ, tham dự các cuộc tranh tài, rồi xuất gia, rồi 6 năm khổ hạnh… Tất cả như mới xảy ra hôm qua. Sau bốn mươi lăm năm hoằng hóa, đã đến hồi ta phải bỏ lại xác thân vô thường. Đời người trôi qua như một giấc mơ. Với ta nhân duyên nay đã đủ, người đáng được độ ta đã độ xong. Thật chẳng còn gì để luyến tiếc. Ta cảm thấy hài lòng mãn nguyện.”

Trong lặng thinh, tiếng lòng của Ngài như giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về vô thường, tinh tấn dõng mãnh hơn nữa để mai sau chẳng phải tiếc nuối cho một kiếp người.

Rời khu di tích, chúng tôi lặng lẽ bước như trên con đường mà cách đây hơn 2500 đức Phật đi qua sau khi tuyên bố: “Ở nơi đây ta đã thực hiện xong hạnh nguyện độ sanh sau cùng và chẳng bao lâu sau ta sẽ nhập Niết Bàn.” Sau đó Ngài cùng A Nan và Tăng chúng đi về hướng thành Câu- Thi -Na.

Chúng tôi đi một đoạn ra tới chỗ đậu xe như để tiễn bước chân Ngài và tăng đoàn. Vọng về phương Bắc (Câu- Thi -Na), chắp tay lạy tạ Ngài lần cuối rồi đoàn chúng tôi hướng về Vương- Xá- Thành để tiếp tục hành trình vọng về cố hương.

Gần khu thánh tích Phật giáo ở Tỳ- Xá- Ly, có một ngôi chùa và một tháp Hòa Bình (Darjeeling Peace) cũng giống như Tháp Hòa Bình trên núi Linh Thứu, do phái Nhật Liên của người Nhật Bản xây dựng. Màu trắng tinh khôi của Bảo tháp chìm trong không gian tĩnh lặng, thay cho lời nguyện cầu hòa bình của người dân Nhật, sau biến cố tang thương ở hai thành phố Hiroshima và Nagasaki, cho nền hòa Bình trên thế giới.

Đoàn chúng tôi rời Tỳ -Xá -Ly để hướng về di tích tiếp theo, Đại Học Na- Lan- Đà. Thấp thoáng trong đoàn, bóng dáng của các Sư Cô đang thong thả bước đi với vẻ mặt trầm lặng. Chắc hẳn rằng, họ đang suy niệm rất nhiều về nơi đây, một nơi đáng nhớ, đáng ghi ân đối với Tôn giả Anan và đức Thế Tôn. Nơi đây, hai ngàn năm trước, lần đâu tiên trong lịch sử Ấn Độ thân phận người nữ được nâng lên ngang bằng với nam giới và có khả năng tu tập, giác ngộ giải thoát như nhau. Nhờ lòng từ bi, bao dung của đức Thế Tôn mà giới nữ cũng có cơ hội tu tập chuyển hóa nội tâm để được tắm mình trong suối nguồn giải thoát vô hạn của giáo pháp Như Lai. Có thể nói, việc cho nữ gia nhập tăng đoàn là những sự kiện lịch sử cực kỳ quan trọng  cho Phật giáo nói riêng và cho lịch sử tiến bộ của nhân loại nói chung. Sự kiện ấy đã phá vỡ thành lũy ngăn cách, kỳ thị giữa nam và nữ, mọi cách biệt nghèo giàu, nam nữ, và tính giai cấp, từ lâu đã đè nặng lên thân phận người phụ nữ vốn chân yếu tay mềm. Đó là một cuộc cách mạng vô tiền khoáng hậu ngay trên cái nôi sanh ra nó; nơi mà từ ngàn xưa, người phụ nữ chỉ bị xem như là nô lệ của đàn ông.

Biết đâu rằng, mai đây, sau chuyến hành hương này, đoàn chiêm bái Phật tích của Viện Chuyên Tu sẽ có nhiều hơn những người con gái của đức Phật, tiếp tục sứ mệnh độ sinh của Ngài.

Tạm biệt Vaishali, tạm biệt những vị trưởng lão Ni: Ma-ha-baxabade (Mahaprajapati), Am-ba-pa-ly (Ambapali), Vô-cấu (Vimala)… những vị nữ đệ tử xuất chúng của Đức Phật tại nơi này.
dsc_7093 dsc_7108 dsc_7111 dsc_7113 dsc_7121 dsc_7144

 Đoàn đã đến đảnh lễ tháp thờ xá lợi Đức Phật

dsc_7158 dsc_7170 dsc_7178 dsc_7179

Nơi tôn thờ Xá lợi của Đức Thế Tôn, một trong bảy phần còn lại được chia ra các nơi tôn thờ

dsc_7185 dsc_7190 dsc_7203

Đoàn viếng tháp hòa bình do Nhật Bản xây dựng

dsc_7215 dsc_7218

Thành Vương- Xá

 Sự trở về của nghĩa tình.

Sau 3 giờ đồng hồ, chúng tôi đã đến Vương -Xá -Thành trong cái nắng ấm của tiết trời pha lẫn bụi bặm khắp không gian. Đoàn xe của chúng tôi nối đuôi nhau rồng rắn khắp nơi, được chạy theo số thứ tự 1,2,3. Chúng tôi không xem chúng là phương tiện đi lại như vật vô tình, mà là những căn nhà thân thương mà mọi người trong đoàn đều luôn tìm về nương náu sau khi kết thúc mỗi điểm chiêm bái. Xe số một luôn lãnh ấn tiên phong, băng băng về phía trước mở đường cho 2 xe còn lại bình thản nối đuôi nhau.  Chậm chạp và inh ỏi khi qua phố xá đông người, hiên ngang giữa con phố lạ thênh thang, nơi nào đoàn xe chúng tôi đi qua cũng được sự để ý của người đi đường vì tính thứ tự, bám đuổi nhau như những người anh em luôn gắn kết đồng hành.

Trước mắt chúng tôi là con phố lạ mà như quen. Bỡi lẽ, màu sắc và cách trang trí đậm chất truyền thống của Ấn giáo đều mang thể thống nhất ở quán xá, nhà cửa, tập tính sinh hoạt khắp miền Bắc Ấn. Nơi đây, hơn hai ngàn năm trăm năm trước, dân chúng trong thành từng hân hoan chào đón bước chân của đấng Thế Tôn cùng tăng đoàn.

Sau khi độ những người bạn đồng tu hành khổ hạnh, năm anh em Kiều-Trần-Như, đức Thế Tôn nhớ lời hứa năm xưa, rằng sẽ về thăm và độ vua Tần-Bà- Sa- La. Đúng 1 năm sau khi giác ngộ, Ngài trở về Thành Vương-Xá thăm vua Tần-Bà- Sa- La như lời xưa đã hẹn. Điều đó, cho chúng ta thấy rằng, đạo Phật là đạo của tình nghĩa, của tình bằng hữu.

Thành Vương –Xá thuộc quận Nalanda của bang Bihar, xưa kia là một trong những thành cổ nhất trên thế giới, là kinh đô của vương quốc Ma- Kiệt- Đà (Magadha), dưới quyền trị vì của Tần- Bà- Sa- La (Bimbisara: 543-491 trước Tây lịch) thời Phật còn tại thế. Theo các học giả cho biết, thành có tên Rajagaha hay Vương- Xá vì nó do các vua chúa lập nên, mỗi nhà tại đây được xây cất như một cung điện. Danh từ “Raja” nghĩa là “Vương” và “Gaha”, nghĩa là “Xá” (tức nhà ở), gọi chung là “Vương- Xá”.

Đây cũng là một thánh tích Phật giáo quan trọng, vì là nơi trước đây, đức Thế Tôn thường lui tới hoằng pháp. Theo tài liệu ghi chép ở Kinh tạng Pali, sau khi thành đạo, trong hai mươi năm đầu tiên đi hoằng pháp khắp nơi, đức Phật đã trải qua năm mùa an cư, kiết hạ ở tinh xá Trúc Lâm vào các năm: thứ 2, thứ 3, thứ 4, thứ 17 và 20 trong số 45 mùa an cư của Ngài.

Vào thời bấy giờ,  thành Vương- Xá là một trung tâm văn hóa lớn, nơi có nhiều hệ thống triết học đang thời kỳ thịnh hành.  Sự kiện Vua Asoka vẫn hành hương về thành Vương- Xá và đã xây bảo tháp và trụ Đá tưởng niệm có khắc tượng voi trên đầu trụ đá cho thấy được nơi này vẫn là một trung tâm Phật giáo quan trọng trong nhiều thế kỷ và thánh địa quan trọng của lịch sử Phật giáo.

Tuy nhiên, thành Vương- Xá không còn giữ được vị trí chính trị sau khi con của vua Ajatasattu (A-xà-thế) là Udayibhadda, lại giết cha mình và chuyển kinh đô về Pataliputta (Hoa Thị Thành).

Đại tu viện Na – Lan – Đà (Nalanda Mahavihara)

Na-Lan-Đà, đô thị của kiến thức (Nalanda-The city of Knowledge”, đã được khai quật vào năm 1871 bởi Ngài Sir Alexander Cunningham. Trước mắt chúng tôi, một Na-Lan-Đà mà xưa kia là một trung tâm học tập bậc cao thời cổ đại ở bang BiharẤn Độ, tồn tại từ thế kỷ thứ 5 đến năm 1197.

Khu phức hợp Na-Lan-Đà được xây dựng bằng gạch đỏ, ngày nay phế tích này nằm trên một diện tích rộng 14 héc-ta (488×244 mét). Vào thời hoàng kim của mình, Viện Đại học Na-Lan-Đà trải dài hơn 10 km, thu hút hơn 20 chục ngàn học giả và sinh viên từ cả các vùng xa xôi như Tây TạngTrung QuốcHy Lạp, và Ba Tư. Na-Lan-Đà bị một đội quân Hồi giáo người Turk do Bakhtiyar Khilji chỉ huy tàn phá vào năm 1193. Các tự viện bị tàn phá, tu sĩ và sinh viên bị chém giết, máu chảy thành sông.  Trong đó, một thư viện của Đại học Na-Lan-Đà cũng bị thiêu đốt và phải mất đến ba tháng mới cháy hết.

Một trong những tháp thờ uy nghi nhất ở Na-Lan-Đà là Tháp Thờ Xá-Lợi-Phất, “Sariputta stupa”, được xây dựng để tưởng niệm vị Đệ Nhất Đại Đệ Tử của Đức Phật. Ngài đã được sinh ra và qua đời ở ngôi làng bên cạnh, làng Nalaka. Như vậy, Nalanda có một bề  dày truyền thống như là một tu viện (Vihara), qua nhiều nhiều thế kỷ, nó trở  thành một trường Đại học Phật giáo quốc tế, đồng thời cũng là một trung tâm văn hóa thế giới có  tiếng tăm.

Hình ảnh Na-Lan-Đà:

dsc_7253 dsc_7259 dsc_7260 dsc_7262 dsc_7263

Sự kiện triệt hạ trường Đại học Na-Lan-Đà được ghi lại bởi sử gia Hồi giáo Minhazad trong cuốn sách của ông mang đầu đề: Tavakata.

“Ở giữa thành phố có một ngôi đền to lớn hơn và vững chãi hơn những kiến trúc khác, khó mô tả hay vẽ lại được. Tướng Mahmut nói: Nếu có ai đó muốn xây dựng một ngôi đền như thế này thì phải tiêu tốn đến hàng trăm nghìn đồng Dinars đỏ (tiền cổ ở nước Hồi giáo như ở Iraq) và phải mất tới 200 năm mới có thể xây xong với những người thợ thành thạo và có kinh nghiệm nhất. Tướng Mahmut (chỉ huy đoàn quân Hồi) ra lệnh tiêu hủy tất cả mọi ngôi đền và kiến trúc khác bằng lửa và dầu và rồi san bằng tận mặt đất, rất nhiều cư dân trong thành phố bỏ trốn. Ai ở lại đều bị chém đầu. Tướng Mahmut tuyên bố: “Hoặc là theo đạo hồi hoặc là chết”.

Năm 2006, Singapore, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, và các nước khác tuyên bố một dự án tôn tạo và phục hồi địa điểm cổ xưa này. Mặc dù vậy, mỗi khi bất kì ai đến đây đều tiếc nuối cho thành phố của tri thức.

Những hình ảnh còn lại đây là chứng tích ghi dấu tội ác hủy hoại văn hóa tâm linh nhân loại của Hồi giáo hiếu chiến, cực đoan trong thế kỷ XII. Tận mắt chứng kiến tội ác ấy để từ đó chúng ta tự thức tỉnh, rút ra bài học kinh nghiệm quý báu cho bản thân và tha nhân. Ngàn đời nay vẫn thế, bài học về lòng thương yêu và hòa bình của đức Phật  vẫn còn nguyên vẹn cho nhân loại.

Sau khi chiêm bái và thăm viếng trường đại học Na-Lan-Đà, đoàn chúng tôi ghé vào nhà hàng ăn trưa. Sau khi ăn trưa, đoàn hướng về núi Linh Thứu để chiêm bái.

Đến chân núi vào lúc 4 giờ chiều, gió núi mát lạnh trong không gian đầy tiếng kinh cầu vang ra từ các cửa hàng bán đồ lưu niệm. Chúng tôi nghe như pháp âm của đức Từ Phụ từ đỉnh Linh -Thứu vọng về. Khách hành hương đang đi con đường mà hơn hai ngàn năm trăm năm trước Vua Tần- Bà- Sa- La đã đi lên núi đảnh lễ đức Thế Tôn. Con đường giờ đây chắc chắn đẹp và rộng rãi hơn xưa rất nhiều. Chừng đó thôi, chúng tôi cũng đủ cảm nhận được lòng mộ đạo  của Vua thời bấy giờ.

Đỉnh Linh Thứu – Gijjhakuta

Đỉnh Linh Thứu là một nơi được Đức Phật thường thuyết pháp và là bối cảnh trong rất nhiều bài kinh quan trọng mà Đức Phật thuyết giảng trong thời gian người lưu lại ở thành Vương-Xá:  Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Đại Bửu Tích, Kinh Pháp Hoa, Kinh Di Lặc, Kinh Đại Phương Quảng Tổng Trì Bảo Quang Minh.

Để lên được đỉnh Linh Thứu, chúng ta phải đi bộ, theo con đường có bậc tâng cấp bằng đá, rộng 6.1m-7.3m, được gọi là Con đường Tần-Bà-Sa-La, vì được đức Vua xây dựng để ngài dễ dàng lên núi để đảnh lễ đức Phật.

Khoảng nửa đoạn đường lên đỉnh, có một hang đá nhỏ dọc đường, được cho là nơi vua Tần- Bà –Sa- La xuống kiệu nghỉ ngơi, và ra lệnh quân lính ở lại dưới núi để thân hành viếng thăm đức Phật. Qua đoạn đường dốc gần đến hương thất Phật ngự, có hang động nhỏ, nằm bên tay phải lối đi, được cho là thạch thất của Tôn giả A Nan. Phía trước thạch thất này, có tảng đá lớn và nhiều mảnh vỡ được đánh dấu đó chính là tảng đá mà xưa kia Đề- Bà- Đạt- Đa (Devadatta), người anh em chú bác của Phật, lăn xuống để hại Phật, lúc Ngài đi ngang qua lối hẹp này. Nhờ oai thần của bậc đại giác, Đề Bà Đạt Đa đã không thực hiện thành công mưu đồ bất chính của mình. Đi khoảng 20 mét, là thạch thất của Tôn giả Xá- Lợi- Phất (Sāriputta), vị tôn giả trí tuệ bậc nhất trong hàng môn đệ của Phật. Trên cùng là hương thất của Phật, gần bên một   mỏm đá gran-nit nhọn, trông xa giống như là một con linh thứu đang đứng với 2 cánh xếp lại, cho nên đỉnh núi này được gọi tên là Núi Linh Thứu.

Hình ảnh núi Linh thứu:

dsc_7302 dsc_7331 dsc_7329 dsc_7325 dsc_7319 dsc_7318 dsc_7317 dsc_7316 dsc_7310 dsc_7308

Sau khi đoàn rời Linh Thứu, thấp thoáng chúng tôi đã thấy di tích đánh dấu nơi giam cầm Vua Tần-Bà-Sa-La (Bimbisara). Vì trời sẫm tối, đoàn chúng tôi không dừng chân để chiêm bái. Tuy nhiên, những nền móng mới xây bằng đá sau này cũng để cho mọi người thấy khi lòng tham con người trỗi dậy, thì bất cứ chuyện gì họ cũng có thể làm; chừng đó thôi cũng đủ minh chứng cho cái thiện và cái ác luôn tồn tại giữa thế gian này.

Ngục giam do vua A-Xà-Thế cho xây dựng để giam hãm chính người cha của mình sau khi muốn lên ngôi sớm. Từ nơi giam cầm này, nhà vua có thể nhìn thấy Đức Phật ngồi trên đỉnh Linh Thứu (Gijjhakuta), làm cho nhà vua càng thêm hoan hỷ mặc dù đang bị giam cầm và bị bỏ đói.

Mặc dù, đoàn chỉ lướt qua khu di tích này nhưng trong tâm thức chúng tôi luôn dừng lại để suy niệm về bài học nhân quả. Vua Ajatasattu (À-xa-thế), bị con của mình là Udayibhadda giết chết để lên ngôi và dời kinh đô từ thành Vương-Xá. Và triều đại Udayibhadda lại được tiếp ngôi bởi 3 thế hệ những ông vua con nghịch tử giết vua cha. Đó là những vua: Anuruddha, Munda và Nagadasa. Tất cả mỗi người đều giết vua cha để đoạt ngôi, như là một truyền thống đáng quên nhất. Bài học nhân quả từ lịch sử từ ngàn đời nay vẫn thế.

Đỉnh Linh thứu mờ dần trong màn đêm. Khi trăng linh sơn lại hiện dần trên đỉnh đầu cũng là lúc chúng tôi vẫy tay chào tạm biệt Linh Sơn Hội.

Kính bái biệt đấng Thế Tôn. Chúng con luôn nhớ mãi nơi đây, nhớ  về tuệ giác cao siêu của Ngài bàng bạc khắp chốn nhân gian này.

Đoàn chúng tôi tiếp tục thăm viếng Trúc Lâm Tinh Xá dù trời đã tối. Do được sắp xếp từ trước, cửa vẫn được mở cho đoàn chúng tôi vào thăm và chiêm bái Tinh Xá.

Trúc Lâm Tinh Xá

Tinh xá đầu tiên của Phật Giáo

Khi vua Tần-Bà- Sa- La nghe tin Đức Phật cùng một đoàn Tỳ kheo 1000 vị Tì kheo đến viếng thăm mình, nhà vua đã đến khu bìa rừng để đảnh lễ Đức Phật. Nhà vua được Đức Phật giảng đạo và đã chứng được thành quả Nhập Lưu (‎Sơ quả Tu-đà-hoàn), tầng thánh thứ nhất. Những ngày tiếp theo, nhà vua mời Phật và Tăng Đoàn đến cung điện để thọ trai và đã cúng dường khu vườn Tre, Trúc Lâm (Veluvana) để làm tịnh xá (arama) cho Đức Phật và Tăng đoàn cũng như cho chính bản thân nhà Vua và dân chúng nơi đây sẽ có nhiều cơ hội đến thọ giáo với Ngài. Mặc khác, mong rằng Tinh Xá Trúc Lâm sẽ giữ được bậc Giác-ngộ lâu dài hơn trong vương quốc mình.

Tối hôm đó, khi chúng tôi đến, Trúc Lâm nhìn giống như một công viên, được trồng nhiều cây cổ thụ rợp bóng mát, và dễ nhận thấy nhất là tre trúc, rợp một màu xanh. Tất cả như để gợi nhớ Trúc Lâm lịch sử năm xưa: Đó là Khu vườn rộng vào khoảng bốn mươi mẫu tây, cách trung tâm thủ-đô Vương -Xá khoảng 2 km về phương bắc. Trong vườn tre mọc xanh tươi, đủ các loại. Giữa vườn tre có hồ Kalandaka (hay Karanda) nước trong veo.

Hình ảnh trúc lâm:

dsc_7363 dsc_7357 dsc_7349 dsc_7342 dsc_7338 dsc_7336

Ngồi nghỉ mệt dưới gốc cây cổ thụ, chúng tôi nghĩ về năm điều ước của Vua  Tần-Bà-Sa-La với đức Phật, mà bất kì thần dân nào cũng muốn có được vị minh quân trong đất nước mình được như thế:

“Thưa Thế Tôn, hồi còn nhỏ trẫm có năm điều ước nguyện. Bây giờ năm điều ước nguyện ấy đều đã được thành tựu. 1.  Được làm lễ quán đảnh và lên ngôi vua; 2.  Được gặp một bậc đạo sư giác ngộ; 3.  Có duyên kính ngưỡng bậc giác ngộ ấy. 4. Được bậc giác ngộ ấy dạy cho trẫm con đường chánh pháp; 5. Có thể hiểu được giáo pháp của bậc giác ngộ ấy; Hôm nay, xin Thế Tôn hoan hỷ nhận trẫm làm đệ tử tại gia của ngài”.

Gần khu vực Trúc Lâm có một hồ chứa nước lớn có tượng hình Đức Phật ở giữa hồ. Hồ này được tin là Ao Nước Karanda  đã được ghi lại trong Kinh điển Phật Giáo là nơi Đức Phật và chư Tăng thường hay tắm. Trong Kinh tạng Phật giáo tiếng Pali và Sanskrit cũng đều ghi tên hồ nước này là Kalanda-Nivàpa hay Karanda-Kanivàpa. Nhưng theo học giả D.N.Sen trong tác phẩm “Rajir and Its Neighbourhood” (Vương -Xá và Các Vùng Phụ Cận) cho biết, hồ nước Karanda hiện nay không phải là hồ chính gốc xưa kia thời Phật còn tại thế mà có thể nó được đào sau này trên ngay chỗ hồ nước cũ ngày trước.

Được thảnh thơi, dạo bước trên những con đường nhiều cây xanh rợp bóng, khách trần dường như cảm giác thư thái hơn khi ngồi dưới cội cây cổ thụ, ngắm nhìn hồ nước xanh trong, mọi suy niệm về cuộc đời dường như dừng lại.

Phật độ ngài Xá- Lợi- Phất và Mục- Kiền -Liên

Ngày ấy, khi thái Tử Tất- Đạt- Đa cưới công chúa Da-Du-Đà-La xinh đẹp, thì chính là ngày mà hai chàng thanh niên Xá- Lợi- Phất và Mục- Kiền -Liên của làng Upatissa (hiện nay là Kalapinaka, còn gọi là Nalaka), và Kolita (nay là Kulika), phía bắc thành vương xá lên đường tìm đạo. Sau hai mươi năm thất bại trong việc tìm ra con đường giải thoát, họ đành quay về quê hương. Trong khi đó, chàng thanh niên ưu tú của dòng họ Sakya năm xưa giờ đây đã trở thành đấng giác ngộ và đang hoằng hóa tại thành phố này. Bấy giờ, mùa an cư thứ nhất mới đi qua, tăng đoàn của đức Phật đã lên hơn 1000 người.  Chư tăng bắt đầu đi hoằng hóa khắp nơi. Nhân duyên vào đạo từ khi Ông Xá- Lợi- Phất thấy Đại Đức Mã –Thắng (Assaji) và ngộ đạo qua bốn câu kệ:

“Các pháp đều do nhân duyên sanh.

Như-Lai đã giảng giải rõ ràng như thế

Và chỉ cách chấm dứt các pháp”.

Vị Ðại Sa-Môn dạy như thế.

Và rồi, từ đây, tăng đoàn Phật giáo đã xuất hiện hai vị thánh đệ tử xuất sắc.

Cả hai ngài, Xá- Lợi- Phất và Mục -Kiền -Liên đều nhập diệt trước Phật, thọ 84 tuổi. Mục- Kiền-Liên nhập Niết Bàn trước Phật 6 tháng, và sau Xá –Lợi-Phất hai tuần.

Sau khi xin Phật ở lại quê nhà, chăm sóc Mẹ hiền, Xá-Lợi-Phất cũng nhập diệt tại thành phố này trong sự vẹn toàn của niềm hiếu đạo với mẹ. Có lẽ, từ đó, vài người theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy cho rằng, sự tích Mục-Kiền- Liên cứu mẹ như trong truyền thống đại Thừa, là câu chuyện hiếu đạo của ngài Xá-Lợi-Phất. Nhưng với chúng tôi, dù là ai đi chăng nữa, thì đạo Phật vẫn là đạo của đạo hiếu, là đạo chan chứa đầy nghĩa tình.

Đạo nguyên