Thủ đô, thành phố thương nghiệp lớn nhất tại miền bắc Ấn Độ Sáng nay, đoàn hành hương của Viện Chuyên Tu chúng tôi ra sân bay để về lại thủ đô New Delhi sau 9 ngày tìm về cố hương của đấng Từ Phụ. Chặn bay nội địa của đoàn từ thành phố Varanasi […]
Thủ đô, thành phố thương nghiệp lớn nhất tại miền bắc Ấn Độ
Sáng nay, đoàn hành hương của Viện Chuyên Tu chúng tôi ra sân bay để về lại thủ đô New Delhi sau 9 ngày tìm về cố hương của đấng Từ Phụ. Chặn bay nội địa của đoàn từ thành phố Varanasi về New Delhi với thời gian bay là một giờ. Vì đoàn đông, chúng tôi phải chia làm hai nhóm khởi hành với hai chuyến bay khác nhau. Như vậy, kể từ hôm nay, chúng tôi rời xa miền đất cố hương, nơi in dấu những bước chân trần của đấng Từ phụ xuôi ngược ở miền Bắc Ấn, theo trục Đông Tây của tiểu lục địa Ấn Độ cổ xưa.
Máy bay đã cất cánh, để lại sau lưng những làng mạc và thành phố cổ xưa gắn liền với lịch sử Phật Giáo: Kajangala, Campà, Ràjagaha (Vương xá), Gayà, Kàsi, Nàlandà, Pàtaliputta, Vesàli, Sàvatthi (Xá vệ), các thuộc quốc của Licchavi, Vajji, Videha, Malla, Bhagga và Koliya; Kosambi, Sankassa, Ujjeni, Avanti, Mathura và Veranja; hay những nơi đặc biệt ấn tượng với lượng tín đồ ít ỏi đã từng quy hướng đạo Phật như: nước Maddarattha, ở phương Bắc, làng Bà-la-môn xứ Kuru và một số địa điểm phía Nam như Patitthàha, Gandhàra và Takhasilà.
Chúng tôi cũng không quên kính bái biệt những đức Vua một lòng vì đạo, trở thành những tấm gương mẫu mực cho các nhà lãnh đạo thời nay với tinh thần “hộ pháp an dân” như: Vua Bimbisàra (Tần-bà -ta- la), Ajàtasattu (A- xà- thế), Pasenadi (Ba- tư -nặc)…. hay Asoka (A-dục).
Mặc dù tất cả đã dần ở lại sau lưng chúng tôi, nhưng chúng luôn được khắc ghi trong tâm khảm của từng hành giả đang xa dần miền cố hương.
Chia tay là để gặp lại. Không ít người trong đoàn đều có ước nguyện quay lại Ấn Độ để về tu học tại Bồ Đề Đạo Tràng một lần nữa cho thỏa nguyện. Có thể nói, đó là tín hiệu rất mừng. Vì chúng tôi biết rằng, sau những ngày gian lao vất vả với những chặn đường di chuyển miệt mài, dài thăm thẳm, thì niềm tịnh tín đối với các thánh tích của các hành giả đã khởi lên một cách mạnh mẽ.
Mọi thứ dường như đã ngủ yên trong lòng quá khứ với lớp bụi vô thường của thời gian. Giờ đây, trước mắt chúng tôi là một thủ đô xanh đẹp của một đất nước hơn 1 tỷ dân. Một thủ đô thịnh vượng, náo nhiệt xe cộ, những ngã đường làm rối mắt người đi. Dường như việc phát triển những quãng trường, những giao lộ phức tạp để phục vụ cho nhu cầu của một thủ đô gần 25 triệu dân thật không hề dễ dàng cho bất cứ nhà lãnh đạo nào.
Ở đây, có 81% người theo đạo Hindu, tất cả các lễ hội lớn của Ấn giáo đều được diễn ra tại thành phố này. Hồi giáo, đạo Sikh, Phật giáo và những đạo giáo khác chiếm phần còn lại, cũng tạo nên các cộng đồng tôn giáo tương đối lớn, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người Ấn.
Đến New Delhi, thủ đô của một đất nước đã đổi thay nhờ vào thành quả của hai cuộc cách mạng xanh (The Green Revolution) và cuộc cách mạng trắng (The White Revolution) mà chính phủ đã phát động vào những năm đầu của thập niên 60. Cuộc cách mạng xanh đã có các ảnh hưởng sinh thái và xã hội to lớn, thu hút sự khen ngợi nồng nhiệt khắp nơi trên thế giới. Từ một nước luôn có nạn đói kinh niên, không sao vượt qua ngưỡng 20 triệu tấn lương thực, thành một đất nước đủ ăn và còn dư để xuất khẩu với tổng sản lượng kỷ lục là 60 triệu tấn/năm.
Chẳng bao lâu, từ những năm 1970 đến 1980, cuộc cách mạng trắng ra đời. Chính phủ Ấn Độ đề ra cuộc cách mạng Trắng để lo nguồn sữa cho người dân. Chính phủ trợ giá cho người chăn nuôi để đảm bảo ngay cả những người nghèo nhất cũng có thể được uống 1 lít sữa/ngày. Tại New Delhi và các thành phố lớn khác, chỉ cần đi bộ không quá 100m, chúng ta có thể gặp các trạm bán sữa tự động hay các tiệm tạp hóa có bán sữa tươi cho người dân. Đêm đêm, sữa từ nhà máy được chở bằng xe chuyên dụng đến những thùng chứa ngầm dưới đất của các trạm bán sữa nhằm cũng cấp sữa cho cư dân vào sáng sớm hôm sau.
Buổi chiều cùng ngày, đoàn bắt đầu xuất phát để viếng thăm đền Akshardham. Vì đoàn đi về New Delhi bằng hai chuyến bay khác nhau nên chúng tôi phải ở hai khách sạn khác nhau để phù hợp cho giờ ăn trưa và nghỉ ngơi. Nhóm thứ nhất gồm 28 người, xuất phát từ Clarks Inn Suites-Pacific Business Park, cách ngôi đền chừng 7 cây số. Nhóm còn lại, 77 người, xuất phát từ Ashok Country Resort, cách ngôi đền khoảng 28 cây số.
Quang cảnh thủ đô về chiều thật đẹp. Cái nắng mùa đông vàng vọt, không làm đủ ấm cho lữ khách đường xa. Bụi và khói xe bám vào người chúng tôi khiến ai cũng có cảm giác như đã bắt đầu có mùi “Ấn” trên mình. Thời tiết khắc nghiệt, không khí ô nhiễm chẳng thể nào làm bận lòng những đàn chim câu bay, đậu tấp nập đón chờ thức ăn từ các du khách; phía trên bầu trời, lũ quạ đang đùa nhau, kêu oang oác, chao lượn, đen kịt một vùng trời. Chỉ chừng ấy thôi, chúng tôi vẫn cảm nhận được nét thanh bình, và tình thần bất hại (non-killing) của con người Ấn Độ.

Bầu không khí ô nhiễm nơi đây thật đáng báo động. Chỉ số bụi mịn trong không khí (PM2.5) trung bình giờ, đo được tại nhiều khu vực khác nhau ở thành phố đã lên đến mức 900, gấp 36 lần giới hạn an toàn theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Tờ New York Times cho biết, một người sống trong tình trạng ô nhiễm không khí hiện tại ở thủ đô New Delhi tương đương với việc hút 40 điếu thuốc một ngày. Cũng theo WHO, Ấn Độ là nước có tỷ lệ người mắc bệnh hô hấp cao nhất thế giới với 159 người chết trên 100.000 dân vào năm 2012. Theo báo cáo mới đây của WHO về mức độ ô nhiễm không khí, Delhi là một trong những khu đô thị ô nhiễm nhất trên thế giới, chỉ đứng sau Riyadh (Saudi Arabia).
Cũng như những chỉ số ô nhiễm ở Sông hằng, tại thủ đô này, những chỉ số ấy cũng chẳng làm bận lòng ai; cư dân vẫn ra đường, không khẩu trang, không mũ nón, khuôn mặt vẫn ngời lên nét dễ thương, lạc quan, yêu đời.
Chúng tôi hòa mình vào dòng người rạng rỡ, vô tư với cuộc sống này để “rồng rắn” tiến vào khu tham quan. Trải qua gần một tiếng đồng hồ cho thủ tục kiểm tra an ninh, mọi thành viên trong đoàn của chúng tôi chính thức bước vào một thế giới tâm linh, tôn giáo, được xem là hình ảnh thu nhỏ của 10.000 năm văn hóa Ấn Độ.
Akshardham (gọi đầy đủ là Swaminarayan Akshardham) có nghĩa là đời đời bình yên, nơi ở thiêng liêng của Đấng Tối Cao, là nơi ở của các giá trị vĩnh hằng. Ngôi đền giới thiệu nét tinh túy trong kiến trúc cổ của Ấn Độ, thể hiện các truyền thống và những thông điệp tâm linh vô hạn.
Quần thể đền Akshardham vĩ đại, theo phong cách cổ kính, được xây dựng chỉ trong 5 năm, với sự dốc sức nhiệt thành của 11.000 thợ thủ công và các tình nguyện viên. Ngôi đền được khánh thành vào ngày 06 tháng 11 năm 2005.
Đoàn chúng tôi lần lượt thăm các nơi, trải nghiệm những điều kỳ thú, đầy ý nghĩa.

Cao nhất và ấn tượng nhất là ngôi đền trung tâm Akshardham. Kiến trúc của ngôi đền này thể hiện bản chất và tầm quan trọng của kiến trúc cổ đại Ấn Độ. Ngoài kết cấu độc đáo, bên trong ngôi đền còn có rất nhiều họa tiết hoa văn tinh xảo, nhiều bức tượng, nhiều phù điêu đẹp đến hoàn hảo lạ kì. Bên ngoài của ngôi đền vẫn là một công trình điêu khắc kì vĩ, phản ánh đời sống sinh hoạt của xã hội Ấn Độ xưa, hết sức công phu và đẹp lộng lẫy.

Chúng tôi chợt nhận ra cảnh của 5 vị thầy bói bịt mắt sờ voi, được khắc bên ngoài, dưới chân ngôi đền, (cũng được đề cập trong Tiểu Bộ Kinh của Phật giáo), như dạy chúng ta về sự nguy hiểm của cố chấp, bảo thủ, và lòng cuồng tín trong quá trình tu học đạo. Điều này cho chúng ta thấy rằng, văn hóa Phật giáo ngày xưa vẫn có sự ảnh hưởng từ truyền thống Ấn Độ.

Rời ngôi đền trung tâm, đoàn chúng tôi bước vào “Ngôi nhà của những giá trị” (Sahajanand Darshan – Hall of Values). Các thông điệp về đời sống đạo đức, không sát hại, khuyến khích sự ăn chay, sống hòa hợp với thiên nhiên, được tạo dựng với cảnh 3D, cùng với hiệu ứng âm thanh ánh sáng, đưa người xem như lạc vào thế kỷ thứ 18 của đời sống người Ấn xưa.
Ngoài ra, tại đền Akshardham còn có hành trình du thuyền và trải nghiệm qua 10.000 di sản vẻ vang của Ấn Độ. Tìm hiểu và khám phá về cuộc đời đức Phật, bệnh viện cho súc vật đầu tiên trên thế giới, giải phẫu thẩm mỹ, y học, những phát minh của Rishi – nhà khoa học của Ấn Độ, xem trường đại học đầu tiên của Ấn Độ và du thuyền qua các hang động Ajanta hay Ellora…

Dàn nhạc nước cũng là một địa điểm quan trọng mà đoàn chúng tôi nán ngồi chờ xem. Show diễn kéo dài 24 phút. Những âm thanh đặc sắc của truyền thống Ấn vang lên với điệu nhảy múa của nước, vừa làm cho không gian trở nên thanh khiết, bay bổng, đầy màu sắc. Những tràn pháo tay liên hồi, những lời trầm trồ vang lên, bay bổng theo tiếng nhạc để thấy được niềm hoan hỉ của khán giả cũng như những tín đồ đạo Hindu về đây tham quan bằng tất cả lòng thành kính. Chúng tôi, những khách trần như lạc giữa chốn tiên bồng, lung linh, đầy huyền ảo.

Khi hoàng hôn xuống, mọi người đều chọn cho mình một chỗ ngồi truyền thống và trải nghiệm chân lý vĩnh hằng. Chúng tôi tự mình đi đến sân của những vị Thần và xem những đứa trẻ vô tội thách thức quyền lực vĩ đại.
Buổi trình diễn nhạc nước Sahaj Anand còn được gọi là Yagnapurush Kund. Đó là ý tưởng lấy từ thành giếng truyền thống Ấn giáo, với đường kính 300 x 300’, có 2.870 bậc thang và 108 miếu nhỏ. Hồ trung tâm được thiết kế theo kiểu hoa sen chín cánh, để biểu diễn các nghi lễ Yantra hay còn được sử dụng để bố trí trong các nghi lễ Hindu thiêng liêng. Tại thành giếng chính là tượng đồng Neelkanth Varni với chiều cao 27 feet. Ông là hiện thân của sự nhiệt tâm, tinh cần và lòng dũng cảm.
Có thể nói, buổi biễu diễn nhạc nước Sahaj Anand là buổi trình diễn ngoạn mục, đẹp mắt và đầy ý nghĩa, với hàng loạt các hiệu ứng về âm thanh, ánh sáng, nhằm mang đến cho khán giả câu chuyện được kể từ trong Kena Upanishad.
Các tia lazer màu sắc, máy chiếu, hiệu ứng phun lửa dưới nước, vòn phun nước và âm thanh sống động hòa trong bản giao hưởng của ánh sáng và những diễn viên nhà nghề tạo nên một show diễn hấp dẫn và đầy cảm hứng. Các chuyên gia quốc tế cũng đã đóng góp rất nhiều về những ý kiến chuyên môn của họ với các tình nguyện viên BAPS và Sadhus để tạo ra một show diễn tuyệt mỹ và đầy ý nghĩa như vậy.
Nội dung show diễn chính là câu chuyện kể về những đứa trẻ chơi xung quanh hồ và ngạc nhiên khi thấy nước cũng tham gia vào trò chơi với chúng. Ngay sau đó, thông qua những bước nhảy và bài hát của chúng, một bông hoa đã được tạo ra từ hồ nước khiến chúng càng thêm phấn khích và tò mò. Tuy nhiên niềm vui của những đứa trẻ đã làm phiền các vị Thần trên trời – những người đang ăn mừng cuộc chiến thắng ma quỷ trước đó. Bông hoa yếu ớt của những đứa trẻ có nguy cơ bị tàn phá bởi cơn thịnh nộ của các vị thần. Sự ngây thơ, hồn nhiên và đầy hy vọng của những đứa trẻ, vô tình đã chống lại sức mạnh và cái tôi của các vị thần đầy uy quyền trên thiên giới. Sau những cơn giận dữ của các vị thần, những bông hoa kia vẫn sống sót. Điều ấy khiến người xem phải học hỏi bí mật của Sahaj Anand – hạnh phúc trời cho và sự dâng trào bất tận. Đây là câu chuyện hay và đầy ý nghĩa chuyển thể từ Kena Upanishad, một trong những kho tàng trí tuệ của Ấn Độ từ thời Vệ Đà.
Show biểu diễn nhạc nước hạ màn như một lời kết cho một ngày thăm viếng của đoàn. Chúng tôi như sống lại với ấn độ cổ xưa, một thế giới đầy màu sắc tâm linh, đa thần, đậm nét tôn giáo.
Mặc dù ai cũng thõa mãn, tấm tắc khen đẹp, lộng lẫy; một công trình của thời hiện đại, hoành tráng, quy mô, nhằm giới thiệu bao quát một nền văn hóa lâu đời của Ấn Độ từ thời cổ xưa. Tuy nhiên, trong thâm tâm, chúng tôi vẫn cảm nhận đó chỉ là khu du lịch văn hóa, giáo dục tâm linh, nhưng lại thiếu đi một nét linh thiêng nhằm níu bước chân du khách, để gởi hồn ai vào đây. Chúng tôi vốn đã quen với những chốn linh thiêng, thánh tích, đơn giản như gạch đá vỡ vụn từ hàng ngàn năm về trước, nhưng đã chứa một giá trị tâm linh, văn hóa của nhân loại một cách nguyên vẹn. Đó là nơi mà không thể “thưởng lãm” bằng mắt, không thể thốt lên bằng lời; nơi mà chỉ khi trái tim dâng đầy niềm hoan hỉ, tịnh tín; nơi mà môi ai mở ra lời kinh cầu tha thiết và ai ai cũng phải “động tâm” thì mới có thể đi vào được thế giới nhiệm màu ấy.
Đạo Nguyên