Vào những ngày cuối của hành trình, các thành viên trong đoàn dường như bắt đầu nghĩ về cuộc chia tay trong niềm luyến tiếc sắp đến gần. Tuy nhiên, hôm nay là ngày đặc biệt nhất. Một buổi sáng nặng trĩu không khí chia tay, khi đoàn Phần Lan, gồm 14 người phải ra […]

Vào những ngày cuối của hành trình, các thành viên trong đoàn dường như bắt đầu nghĩ về cuộc chia tay trong niềm luyến tiếc sắp đến gần. Tuy nhiên, hôm nay là ngày đặc biệt nhất. Một buổi sáng nặng trĩu không khí chia tay, khi đoàn Phần Lan, gồm 14 người phải ra sân bay ngay vào buổi sáng.

Bữa ăn sáng qua loa, nhanh gọn, nhường chỗ cho những lời ân cần, bịn rịn của cuộc chia tay đầu tiên.

Gặp nhau đây rồi chia tay.

 Ngày vàng như đã vụt qua trong phút giây”.

Những món quà mang nỗi niềm của người sắp chia xa, những tấm hình chụp vội, để lưu lại khoảnh khắc đẹp của những khuôn mặt thân thương mới hôm nào còn bỡ ngỡ.

Có những người đến lúc chia tay mới kịp thân

Có những gương mặt khi xa nhau mới kịp nhớ.

Trong gặp gỡ đã có mầm mống của sự chia ly. Chúng tôi phải nhận thức được điều đó. Không gì hơn, chúng tôi muốn gởi những lời cầu chúc chân thành đến tất cả, mong mọi người có cuộc sống đong đầy hạnh phúc, và an vui ngay giữa cuộc đời này.

Sau khi đại diện của Ban Tổ Chức đưa đoàn Phần Lan ra sân bay về bổn quốc, đoàn chúng tôi tiếp tục tham quan, chiêm bái những nơi quan trọng, và ý nghĩa của thủ đô New Delhi. Điểm đầu tiên mà đoàn chúng tôi đến là đền Hoa Sen.

Đền Hoa Sen (Lotus Temple)

Khi màn sương nhường chỗ cho ánh nắng đậm dần của ngày mới, cũng là lúc đoàn chúng tôi đặt chân tới ngôi đền nguy nga, tráng lệ của đạo Bahai, đền Hoa Sen.   

Khi chúng tôi xuống xe, nhìn từ đằng xa, ngôi đền hình hoa sen như đang hé nở, khoát lên mình màu trắng của đá cẩm thạch, sáng trắng tinh nguyên. Đền hoa sen là nơi cầu nguyện của đạo Bahai có nguồn gốc từ Ba tư, truyền vào Ấn Độ vào thế kỉ thứ 19.

Cũng như các nước Phương Đông, tại Ấn  Độ, hoa sen có mặt trong hầu hết các lĩnh vực từ văn học, nghệ thuật, cho đến kiến trúc, hội họa,… Hoa sen không những đẹp cả sắc lẫn hương mà còn chính sự vươn lên khỏi bùn để nở hoa, đã làm cho loài hoa này càng mang một ý nghĩa đặc biệt: không có bùn làm sao có sen.

           Ngôi đền được gọi là đền Hoa Sen (Lotus Temple) vì có hình dáng trông giống như một đóa hoa sen đang hé nở, do kiến trúc sư Fariborz Sahba người Canada gốc Iran thiết kế và xây dựng trong 10 năm. Đền cao 35m, diện tích khoảng 105,000 m². Đền có sức chứa 2500 người do khoảng 800 kỹ sư, kỹ thuật viên, nghệ nhân và công nhân đã giúp sức thực hiện công trình xây dựng phức tạp nhất thế giới này. Công trình được khánh thành năm 1986.

          Như những công trình cổ xây ở các đền Bahai khác trên thế giới, bề mặt của công trình này cũng được làm từ đá sa thạch, khai thác từ núi Penteli của Ai Cập.

    Đền Hoa sen có 3 lớp cánh, mỗi lớp có 9 cánh. Trong các con số thì số 9 là số lớn nhất, tượng trưng cho sự hoàn hảo, thống nhất. Chín cánh ở mỗi lớp cánh cũng tượng trưng cho 9 tôn giáo lớn trên thế giới (Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Do thái giáo, Ấn giáo, Đạo Sikh, Phật giáo, Lão Giáo, Thần đạo và Baha’i). Vì vậy, tất cả mọi người, bất kể thuộc tôn giáo nào, đều có thể đến đây tham quan, và chiêm bái. Điều này thể hiện sự đoàn kết thống nhất, một quan niệm cơ bản của đạo Bahai.

Phía bên ngoài, công trình được bao quanh bởi 9 hồ nước phản chiếu trong xanh, tượng trưng cho những chiếc lá sen xanh tươi, nằm dưới đóa sen đang hé nở.

Đoàn chúng tôi tĩnh lặng bước vào ngôi đền. Mọi người đều ngạc nhiên vì bên trong không có thờ bất cứ vị thần hay một giáo chủ nào. Tất cả là một không gian yên ắng, không một tiếng kinh cầu.

Chúng tôi cũng ngồi lại bên trong ngôi đền, những giây phút lặng thinh, suy niệm về một đời người, một đời sống tâm linh mà mỗi người có mỗi cơ duyên để sống. Thử hỏi, nếu chúng ta sinh ở vùng Trung Đông, chắc hẳn rằng chúng ta sẽ theo hồi giáo; nếu sinh ra ở châu Âu, hay Mỹ, thì chúng ta sẽ có nhiều cơ duyên theo Thiên chúa giáo hoặc Tin Lành. Cho nên, việc sinh ra ở đâu, theo tín ngưỡng nào, sống theo lý tưởng nào, thì đó là phước phần, duyên nghiệp của mỗi chúng ta vậy. Hạnh phúc thay, may mắn thay, chúng ta là đệ tử Phật, một đấng giác ngộ luôn tuyên thuyết về lòng từ bi, yêu thương nhân loại; nơi ấy được soi sáng bởi ánh sáng tuệ giác, xóa tan lòng tin mù quáng, cuồng tín mê mờ.

Nếu như, tất cả tôn giáo lớn trên thế giới này đều dạy cho nhân loại biết tôn trọng, yêu thương nhau, thống nhất hòa hợp với nhau thì lịch sử ắt hẳn sẽ không chứng kiến những cuộc thánh chiến, tàn sát hủy diệt nhau để được nhận đặc ân, hay sự cứu rỗi của đấng cứu thế nào đó đang ngự trị trên thiên đường, thì nhân loại cũng đã bớt đi nỗi thống khổ chết chóc, chia ly, phân hóa tình huynh đệ.

Trời cũng đã dần về trưa, đoàn chúng tôi trở về khách sạn Clarks Inn Suites-Pacific Business Park để ăn trưa và nghỉ ngơi. Ngồi trên xe, nụ cười từ bi của đấng Từ Phụ, người cha lành chung của bốn loài chợt hiện ra trong tâm trí chúng tôi. Thân tứ đại cũng mỏi mệt sau những ngày dài. Chúng tôi thiếp đi sau thời kinh cầu của đại chúng trên xe. 

Viện Bảo Tàng Quốc Gia New Delhi

Khoảng 2 giờ chiều, đoàn chúng tôi có một điểm chiêm bái cuối cùng đó là Viện Bảo Tàng Quốc Gia New Delhi, nơi tôn trí xá lợi Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni.

Xá lợi Phật được an trí trong viện bảo tàng quốc gia New Delhi là một bảo vật vô cùng quý giá và thiêng liêng đối với nhân dân Ấn Độ nói riêng và Phật tử khắp năm châu nói chung.

Nếu nội dung được khắc trụ đá do vua A Dục dựng lên ở vườn Lâm -Tỳ -Ni với bức thông điệp xác định nơi sinh ra của đức Phật, như là một giấy khai sinh  khẳng định đức Phật là nhân vật có thật trong lịch sử, thì Xá-Lợi Phật là bằng chứng hùng hồn nhất về sự hiện diện của Ngài suốt 45 năm tận tụy cứu độ chúng sinh đến  bờ an vui giải thoát, giác ngộ. Vì lòng từ bi không hạn lượng mà ngài đã lưu bố Xá Lợi để chúng sinh đời sau không đủ duyên lành gặp ngài thì còn có thắng duyên để chiêm bái, đảnh lễ và cúng dường xá lợi như chính kim thân của Ngài lúc còn tại thế.

Đây là một trong 3 tháp xá lợi của đức Phật được khai quật từ Ca-Tì-La-Vệ (Kapilavatthu) được dòng họ Sakya thờ, do nhà khảo cổ học người Anh, William Claxton Peppe, phát hiện năm 1898. Hai tháp còn lại là Xá lợi Phật được tìm thấy tại tháp Tỳ- Xá- Ly, (Vesali) đang được tôn trí tại viện bảo tàng Patna và xá lợi Phật được khai quật tại tháp Pháp Vương (Dharmarajika) ở Sarnath vào thế kỷ 19 đã bị ông Jagat Singh, viên quan của Sarnath rải xuống sông Hằng.

Lịch sử ghi lại rằng: Sau khi trà tỳ nhục thân đức Phật, Xá lợi được chia ra tám phần cho 8 nước để xây tháp thờ: Vua A-Xà-Thế (Ajàtasattu) xây tháp tại thành Vương Xá; Người Licchavi xây tháp tại Vesàli; Người Thích Ca (Sakya) xây tháp tại Kapilavatthu; Người Buli xây tháp tại Allakappa; Người Koli xây tháp tại Ràmagàma; Bà la môn Vethadìpaka xây tháp tại Vethadìpa; Người Mallà ở Pàvà xây tháp tại Pàvà; Người Mallà ở Kusinàrà xây tháp tại Kusinàrà; Bà la môn Dona xây tháp tại khu vườn nhà mình và Người Moriyà xây tháp tại Pipphalivana. Ngoài 8 tháp xá lợi trên, còn có tháp thứ 9 là bình dùng để đong xá lợi (lúc phân chia) và tháp thứ 10 là tro than còn lại sau lễ trà tỳ.

“Ngày vui ngắn chẳng đầy gang”. Một ngày cuối cùng trên đất Phật cũng đã hết. Đoàn chúng tôi chuẩn bị hành lí và ra phi trường  Indira Gandhi International Airport. Đường phố thủ đô giờ tan tầm, khiến giao thông ùn ứ, làm mất rất nhiều thời gian di chuyển. Đoàn chúng tôi dừng chân tại nhà nhà hàng khách sạn Ashok Country Resort để ăn tối. Bữa ăn cuối cùng của hành trình trên miền cố hương của đấng Từ Phụ có chút lưu luyến, mang lẫn sự gấp vội vốn có. 

Mười ngày ngắn ngủi trôi qua thật nhanh. Đại chúng mới hôm nào là những người đến từ bốn phương nay phải trở về nơi mình đã xuất phát. Những khuôn mặt thân thương hôm nào mà chúng tôi chưa kịp nhớ tên, nhưng trong thẳm sâu kí ức của chúng tôi sẽ không bao giờ quên họ. Thời gian gặp gỡ thật ngắn ngủi so với tháng ngày dài lê thê của kiếp người. Mới ngày nào, Tứ Động Tâm mở lòng chào đón chúng tôi, những bước chân quay về khi đã mỏi chuyện trần thế, mà nay mỗi người mỗi ngả như đã định sẵn.

Dù về đâu, ở đâu, nhưng chúng tôi ý thức rằng mình đều là những người con cùng cha, cùng một cố hương để hướng về. Dù một lần trong đời thôi, đoàn chúng tôi đã đủ duyên lành, chiêm bái và đảnh lễ hết Tứ Động Tâm, trên miền đất Phật thiêng liêng.    Chúng tôi chắc chiu từng kí ức thẳm sâu:

          Lâm-Tỳ -Ni, nơi hiếng dâng cho nhân loại một nhân vật vĩ đại; nơi mà hơn 2500 trước, nhơn thiên và muôn vật hoan ca chào đón, nâng bước chân đấng Từ phụ đản sanh.

          Bồ-đề-đạo-tràng (Bodhgaya), nơi khai sinh ra đạo Phật, là đạo tràng thiêng liêng, nơi bừng tỏa ánh sáng giác ngộ của đức Phật Thích Ca tỏa rạng muôn phương.

          Vườn Lộc- Uyển (Sarnath) là thánh tích thiêng liêng, là nơi khơi nguồn của dòng pháp giải thoát.

          Câu-Thi-Na (Kushinagar) là nơi níu bước chân người, nặng trĩu lời chia tay. Còn đó, người cha già như đang chìm sâu vào thiền định, vẫn nằm yên chờ đợi đàn con thơ quay về cố hương đã bao thế kỉ qua; nơi trời người và muôn vật rơi lệ u buồn, tiễn biệt đấng Thiên nhơn sư.

          Chỉ cần nhắc lại bốn chữ “Tứ Động Tâm” thôi, bước chân lữ khách như bị níu lại, vương vấn hồn người. Tứ Động Tâm của Ấn Độ cổ năm xưa, có những lúc huy hoàng, tráng lệ, từng đón nhận sự qui ngưỡng của những bậc đế vương và toàn thể thần dân Ấn Độ; cũng có những lúc ẩn mình để rồi bị chôn vùi vào cát bụi lãng quên. Ngày nay, Tứ Động Tâm nhờ vào cộng đồng Phật tử quốc tế, đã được phục hoạt và thật sự chuyển mình thức dậy sau giấc ngủ dài ngàn thu để hân hoan chào đón hàng triệu con tim của người con Phật trên toàn thế giới quay về chiêm bái, đảnh lễ, tu tập. Giữa cuộc đời ác trược, quay về cố hương để tìm ra chính mình thì là một phước duyên thù thắng nhằm củng cố và tăng trưởng tín tâm của mình.

Lịch sử Phật giáo dù đã trải qua hơn 2500 năm, nhưng giá trị về đạo đức, về giáo dục cũng như đóng góp vào nền hòa bình của Phật giáo đối với nhân loại vẫn tồn tại nguyên vẹn, bất biến với thời gian. Nếu nói, lịch sử là thước đo của mọi giá trị,  thì cho dù, thước đo của lịch sử có dài bao nhiêu cũng không thể tính xiết hết được giá trị ngàn đời của Đạo Phật.  Bất hạnh thay, lịch sử đã tạo ra đạo quân Hồi giáo cực đoan, oan nghiệt, vì lòng cuồng tín, mù quáng, vì lòng sân hận, đã triệt hạ Phật giáo ngay trên miền cố hương của chúng ta.

 Trong khi đó, lòng từ bi của đức Phật ngàn đời nay vẫn thế. “Không bao giờ có thể có một cuộc chiến tranh Phật Giáo. Không quốc gia xâm lăng nào mục kích lòng hăng say chiến đấu của những người Phật tử; không người nào bị sát hại, đổ máu giữa nhà, vì kẻ sát nhân lấy danh nghĩa của Ðức Phật. Ngài, và niềm tin nơi Ngài không hề mang một vết máu. Ngài hoằng dương một giáo lý đem lại an Lành vĩ đại, tình thương, lòng từ ái, bi mẫn, và lời dạy của Ngài trong sáng, rõ rệt đến độ không bao giờ có thể nhầm lẫn”. ( H. Fielding Hall: “The Soul of a People”).

Hơn 25 thế kỉ đã trôi qua, kẻ chiến thắng với tâm tham, sân, si, cũng phải bị chôn vùi bởi cát bụi với nắm tro tàn; các pháp hữu vi cũng từ đó mà “dị diệt”; đền tháp, chùa chiền cũng vụn vỡ theo quy luật “thành, trụ, hoại, không”, nhưng suối nguồn yêu thương, lòng từ bi vô hạn của đạo Phật vẫn không ngừng chảy;  tuệ giác siêu việt của Phật giáo vẫn sáng soi cho nhân loại trong đêm trường vô minh tăm tối.

Ngày nay, không chỉ riêng Ấn Độ, mà các nước trên thế giới đang chung tay phục hoạt lại các thánh tích của Phật giáo. Là người con Phật, chúng tôi biết rằng không có thứ gì trên đời này có thể tránh khỏi định luật vô thường. Dẫu biết rằng, dù có làm gì đi nữa thì Tứ Động Tâm trong tâm trí chúng tôi cũng chỉ là những đống gạch đã từng  vỡ vụn, hoang tàn đổ nát; là những phế tích nằm im, mặc cho thế sự thăng trầm, lòng người thay đổi. Nhưng, những đống gạch vụn vỡ ấy, chính là nơi dung chứa di sản văn hóa tâm linh cao thượng, đã thấm nhuần trong lòng của những người con Phật khắp nơi trên địa cầu này.

Mười ngày qua, tất cả Phật tử Viện chuyên tu chúng tôi đã sống cùng nhau như một gia đình trong suốt hành trình đã từng chia sẻ niềm vui, sách tấn nhau tu học. Tất cả đã thật sự “xuất gia” sống không gia đình, hòa mình vào tình huynh đệ chan chứa trong tình yêu thương rộng lớn của đấng Từ Phụ.

   “Này các tỳ kheo, như những con sông to lớn, Gangà, Yamunà, Aciravati, Sarabhù và Mahì, khi đổ ra biển thì bỏ lại tên riêng và lý lịch của mình, rồi được xem là biển cả. Cũng vậy, này chư Tỳ Kheo, từ bốn giai cấp (vannas) … những người ly gia cắt ái, trở thành tu sĩ không nhà cửa trong Giáo Pháp và Giới Luật mà Như Lai công bố, cũng mất đi danh tánh và lý lịch của họ và được xem là con dòng Thích- Ca (Sàkya)” .(Udàna. p.55).

Chúng tôi biết rằng, quay về nguồn là truyền thống đẹp ngàn đời. Nhưng, như một con sông, muốn phát huy truyền trống của nó, thì không có nghĩa là phải chảy ngược về nguồn. Với ý nghĩa đó, con sông càng chảy xa nguồn mới phát huy được truyền thống ấy. Vì truyền thống của nó là “chảy”. Như truyền thống của con sông, đệ tử Phật cũng phải lấy trí tuệ làm sự nghiệp (duy tuệ thị nghiệp) cho bản thân mình, là truyền thống cao thượng, xưa nay của Phật giáo. Chúng con cũng phải lên đường như để phát huy nguồn cội, làm rạng rỡ “cố hương” của mình. Nơi đó là bản tâm bất sanh bất diệt, là suối nguồn an vui giải thoát nội tại.

“Này các Tỳ kheo, hãy lên đường vì lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người”. (Kinh Tương Ưng V, phẩm Đại Thiên).

Trước khi rời đất Phật, qua đây, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn về sự quan tâm giúp đỡ của chư học Tăng Ni, đang du học tại New Delhi cho đoàn được thành tựu viên mãn như sở nguyện; Ban tổ chức xin gởi lời tri ân sâu sắc đến Đại Đức Thích Quảng Chân, du học sinh tại trường đại học Gautam, đã nhiệt tâm trợ giúp, hướng dẫn đoàn trong suốt hành trình.

Chúng tôi xin cảm ơn công ty Siddhattha đã đồng hành cùng với đoàn. Xin cảm ơn những bạn bè nơi đây đã hết lòng vì đoàn hành hương của chúng tôi.

Ban tổ chức cũng xin chúc mừng toàn thể quý vị đã hoàn thành tâm nguyện chiêm  bái Phật tích đầy phước báu này.

Qua đây, chúng tôi gởi lời tán thán công đức đến những cụ già lớn tuổi cũng đã thành tựu ý nguyện hành hương chiêm bái Tứ động tâm, bằng tất cả nghị lực, ý chí một cách viên mãn.

Chúng tôi cũng xin ca ngợi những tấm lòng của những người con đã trợ duyên cho cha mẹ, ông bà, để cùng được về miền đất Phật, như Phật tử: Diệu Quyên, Diệu Nghĩa, Thiện chánh, Phương Biên, Diệu Đoan, Hoa Hạnh… Thật không gì hơn khi an ổn cha mẹ, người thân trong chánh pháp. Có như thế mới trọn niềm hiếu đạo.

Ban tổ chức chúng tôi cũng xin cảm ơn những vị đã hi sinh và chịu nhiều thiệt thòi vì đại chúng, chọn những ghế sau cùng để ngồi trong suốt hành trình.

Một tiếng vọng đơn lẻ chắc hẳn sẽ không bao giờ đủ âm vang để vọng về cố hương. Cũng vậy, sự thành công của đoàn chính là nhờ vào sự trợ duyên của tập thể. Ban tổ chức chúng tôi xin cảm ơn những sự đóng góp quý báu từ các nhóm trưởng, các anh chị em quay phim, và tất cả các thành viên trong đoàn đã cùng chúng tôi làm nên một bản hòa ca tuyệt mỹ của tiếng lòng để đồng vọng về cố hương của đức Thế Tôn.

Phần kết thúc nào cũng có hai chữ “tuy nhiên”. Mặc dù ban tổ chức đã hết sức cố gắng  trợ duyên cho đoàn, tuy nhiên sự thiếu sót không thể nào tránh khỏi. Chúng tôi rất mong nhận được sự hoan hỉ của quý vị.

“Niềm vui dâng tặng cho người
Nỗi buồn xin để mây trời mang đi”

Chương trình hành hương chủ đề “Tiếng vọng cố hương” của Viện Chuyên Tu đã chính thức khép lại, sau hành trình 10 ngày. Nhưng chúng tôi tin rằng, “tiếng vọng” ấy sẽ âm vang, không bao giờ dừng nghỉ. Đó là tiếng  vọng luôn thôi thúc cuộc hành trình cho đến khi thân hoại mạng chung, để tìm về bảo sở, cố hương của mỗi người con Phật.

Tạm biệt Ấn Độ, tạm biệt cố hương!

Đạo Nguyên