Vườn Lộc Uyển (SARNATH) Nơi khơi nguồn của dòng pháp giải thoát “Tại Sarnath, gần Benares, dường như tôi vẫn còn thấy Ðức Phật đang thuyết giảng bài pháp đầu tiên, và những lời dạy của ngài văng vẳng từ xa vang lại, đang còn thì thầm bên tai tôi, xuyên qua hai ngàn năm […]

Vườn Lộc Uyển (SARNATH)

Nơi khơi nguồn của dòng pháp giải thoát

Tại Sarnath, gần Benares, dường như tôi vẫn còn thấy Ðức Phật đang thuyết giảng bài pháp đầu tiên, và những lời dạy của ngài văng vẳng từ xa vang lại, đang còn thì thầm bên tai tôi, xuyên qua hai ngàn năm trăm năm. Trụ đá Asoka với những lời ghi khắc trên đó dường như nói lên cho tôi bằng những ngôn từ tuyệt mỹ về một con người, mặc dù cũng là hoàng đế, nhưng vĩ đại hơn bất luận vua chúa hay hoàng đế nào”. (Trích lời của ông Jawaharlal Nehru-Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ).

Sự trở về của tình huynh đệ đồng tu

Với pháp lạc vừa chứng đắt, có sẵn trong tay phương tiện độ sinh, đức Phật quyết định dâng hiến cuộc đời mình cho sứ mệnh hoằng pháp vì hạnh phúc cho nhơn thiên. Ngay lúc quyết định vận chuyển bánh xe pháp,  Ngài nghĩ ngay đến hai người thầy đầu tiên của mình, Àlàra Kàlàma và Uddaka Ràmaputta. Khi biết rằng cả hai đều từ trần, ngài tiếp tục hướng về năm vị đồng tu khổ hạnh với ngài thuở trước, đang trú tại Lộc Uyển (Vườn Nai) ở Isipatana (Chư Tiên Đọa Xứ) gần Benares (Ba-la-nại hay Vàrànasi). Từ đó, đức Thế Tôn bắt đầu cất bước du hóa của mình  đến vườn Lộc uyển để giáo hóa 5 người bạn đồng tu ngày xưa. Với lòng từ bi bao la, với tình nghĩa năm nào, Ngài đã khai thị cho 5 người bạn của mình chứng quả A-la-hán.

Đường về Lộc Uyển ngày xưa chắc còn ngoằn ngoèo, nhỏ hẹp và nhiều rừng núi hoang vu, cây cối trơ trọi với cái nắng gắt của tiết trời. Chúng tôi đoán rằng, với chiều dài hơn 220 km, tính thời gian nghỉ ngơi, thiền tọa, và khất thực vào mỗi buổi sáng, ngài sẽ mất ít nhất hai tuần mới đến được chỗ tu hành khổ hạnh của những người bạn đồng tu của mình. Rồi từ đấy, bóng dáng của vị khất sĩ Phật giáo, an lạc, khoan thái, đi vào từng thôn xóm để khất thực  bắt đầu xuất hiện giữa thế gian này.

Một bát cơm ngàn nhà

Thân chơi muôn dặm xa

Mắt xanh xem trần thế

Mây trắng hỏi đường qua.

Cũng từ đây, mỗi bước chân vân du của ngài là niềm hân hoan không những đối với chúng sinh cõi phàm trần và chư thiên đồng hoan hỉ. Cho nên, chư thiên cũng luôn dõi bước chân ngài. Và giai thoại chư thiên thâu đất lại để rút ngắn khoảng cách từ Bồ- Đề Đạo Tràng đến Lộc Uyển, cho đức thế Tôn đỡ nhọc kim thân, cũng nói lên được tình cảm của trời người.

Ngày nay, chúng tôi ngồi xe máy lạnh, chạy chỉ có 6 tiếng đồng hồ mà nghe cả thân tứ đã như rã rời. Quả thật, khó mà so sánh tâm lượng hẹp hòi của chúng sinh với lượng bao dung cao cả, và lòng từ bi vô lượng của đấng từ phụ.

Theo dấu chân Ngài, đoàn xe chúng tôi tiến vào địa phận giữa Uruvelà và Gayà. Nơi đây, vào năm 588 trước CN, trên đường hướng về Benares (Ba-la-nại), đức Thế Tôn đã gặp một du sĩ lõa thể tên Upaka,  thuộc phái Àjivika, là người chủ trương thuyết định mệnh cực đoan. Vẻ hân hoan nội tâm tỏa ra trên khuôn mặt rạng ngời của đức Phật khiến vị này chú ý và hỏi ai là Đạo Sư của ngài và Giáo Pháp ngài như thế nào. Đức Phật đầy tự tin tuyên bố, ngài đã được giải thoát nhờ ái diệt, ngài là vị thắng giả chiến trường, vì vậy ngài không có Đạo Sư, mà chính ngài là bậc Đạo Sư. Nghe điều này, Upaka cũng không cảm phục và nói: “Có thể là như vậy, thưa hiền giả” rồi lắc đầu rẽ vào một con đường khác bên cạnh. (Mv.1.6; MN. 26, MN. 85).

 Ở đây, một chút tiếc nuối, một cảm giác hụt hẫng khi đạo sĩ Upaka bỏ đi, xuất hiện trong tâm trí chúng tôi. Câu hỏi được đặt ra: tại sao các nhà kiết tập Kinh Tạng Pàli đã không cắt bỏ tiểu đoạn này, vì nó làm hỏng phần nào hình ảnh của đức Phật?. Chúng tôi cho rằng,  họ đã không làm như vậy để chứng tỏ lòng tôn trọng sự thật lịch sử.  Và ở một ý nghĩa quan trọng hơn, việc đạo sĩ Upaka không được giáo hóa cũng là minh chứng cho một điều, chính đức Thế Tôn có 3 điều không làm được. (Tam bất năng: 1. Không thể thay đổi được định nghiệp: Tuy đức Phật có đầy đủ trí tuệ, đối với tất cả hiện tượng không chấp trước, nhưng đối với định nghiệp mang lại quả báo thiện ác thì Phật cũng không có cách nào thay đổi được. 2. Không thể độ người vô duyên: Tuy Phật biết rõ tính chất của mọi chúng sinh, thấu suốt hết các sự việc, nhưng cũng không thể nào hóa đạo những chúng sinh không có duyên. 3. Không thể độ hết chúng sinh trong cõi chúng sinh: Đức Phật tuy có thể độ tất cả chúng sinh trong thế gian, nhưng không thể nào độ hết chúng sinh trong cõi chúng sinh).

Bước vân du của đức thế Tôn cuối cùng cũng đã đến nơi cần đến. Khi Kondañña, Bhaddiya, Vappa, Mahànàma và Assaji thật bất mãn khi thấy Sa-môn Gotama, người bạn đồng tu cũ trước kia đã rời bỏ họ, nay lại đi đến gần Vườn Nai ở Isipatana. Quả thật, năm đạo sĩ đã đồng lòng không chào hỏi cũng không đứng lên đảnh lễ ngài. Song, khi ngài đến gần, họ đã bị chinh phục trước vẻ cao quý của một bậc giải thoát khiến tất cả họ đều cư xử với ngài vô cùng kính cẩn.

Tháp hạnh ngộ: nơi đánh dấu lần đầu tiên đức Phật gặp 5 anh em Kiều Trần Như.

Mặc dù, năm xưa là những người bạn đồng tu, nhưng giờ đây, đức Thế Tôn trở về vì nghĩa tình của ngày ấy với vị trí của người đã thành công trên con đường tu tập, giác ngộ giải thoát. Cho nên, khi nghe những người bạn gọi Ngài là Hiền Giả, Ngài tỏ ra nghiêm khắc bác bỏ và thể hiện uy lực của bậc Đại Giác để nhiếp phục:

 “Này các Tỷ-kheo, chớ có gọi Ta bằng tên và dùng danh từ Hiền giả. Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lắng tai nghe, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại, mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú”.

Không có những hóc hẻm đen tối của si mê, không có những mạng nhện đầy bí hiểm, không có những gian phòng mịt mù khói tỏa bao trùm bí ẩn, không có “giáo lý bí truyền”, không có những tín điều được dấu nhẹm, trong giáo huấn của Ðức Phật, vốn được rộng mở sáng tỏ như ban ngày và trong suốt như thủy tinh. “Giáo pháp và giới luật mà Ðức Phật công bố sáng chói, tỏ rạng khi được mở rộng, không phải lúc bị che đậy, giống như mặt trời và mặt trăng, tỏ rạng khi trời quang mây tạnh và lu mờ lúc bị mây che án”. ( Mahà Parinibbàna Sutta, Dìgha-Nikàya, 16/II, 100.)

Hình ảnh năm anh em kiều trần như:

Đêm hôm ấy, Đức Phật đã khai giảng bài Thuyết Pháp Đầu Tiên, Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutta), mà ngay sau đó, Kiều-Trần-Như (Kondañña) đã chứng đạt ngay Tầng thánh thứ nhất (Nhập Lưu).

Bốn người còn lại cũng chứng được tầng thánh thứ nhất sau 4 ngày liên tiếp nghe Đức Phật giảng dạy.

Ngay khi ngài thuyết giảng, tôn giả Kiều-Trần-Như đã quán triệt Giáo Pháp: “Những gì chịu qui luật sinh khởi đều phải chịu qui luật hoại diệt”. (Mv. 1. 6. 29) Sau đó, tôn giả liền xin đức Phật nhận làm đệ tử và đức Phật lấy phương ngôn: “Đến đây, này Tỳ-kheo, Giáo Pháp đã được khéo giảng, hãy sống đời Phạm hạnh (thanh tịnh) để đoạn tận khổ đau” để nhận tôn giả làm một Tỳ-kheo (Bhikkhu) (Mv 1. 6 . 32). Như vậy, tôn giả Kiều-Trần-Như là vị Tỳ-kheo đầu tiên trong lịch sử Phật giáo. Sự thọ giới của Tôn giả đánh dấu sự khởi đầu của việc thành lập Tăng đoàn (Sangha) và tồn tại cho đến ngày nay.

 Tiếp theo,  Đức Phật cũng thuyết giảng cho họ Kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhana Sutta) mà sau khi nghe giảng xong, tất cả họ đều chứng đắc quả vị A-La-Hán. Cũng tại Lộc-Uyển, chúng ta cũng được biết, Đức Phật đã chuyển hóa chàng quý tộc Yasa và nhóm 54 người bạn của anh ta, và họ cũng chứng ngộ quả vị A-La-Hán. Sau đó, Đức Phật phải cử họ đi nhiều phương khác nhau, mỗi người một phương, để tiếp tục truyền bá Giáo Pháp. Vì vậy, Sarnath đã trở thành một địa danh nổi tiếng, là nơi khai giảng giáo pháp của Phật và là nơi Tăng Đoàn (Sangha)  Phật Giáo đầu tiên được thành lập. 

Giống như nhiều thánh địa Phật giáo khác, vườn Lộc Uyển là một công viên rất rộng, bao quanh là hàng rào xây bằng đá và nhiều cây xanh to, xõa bóng mát.

Hình ảnh tổng thể lộc uyển:

Tháp Dhamekh (Dhamekh Stupa)

Bước vào thánh tích Sarnath (Lộc Uyển), có lẽ hình ảnh uy nghiêm, nổi bật nhất và to lớn của nhất, chính là tháp Dhamekh. Nguồn gốc tên tháp được xác định, sau khi các nhà khảo cổ khám phá ra một tấm bia ký bằng gạch nung, có chữ khắc trên bia ghi tên tháp là Dhamàka (Skt: dhammacakra), nghĩa là nó đánh dấu nơi đức Phật thuyết giảng  cho năm Tỳ-kheo đầu tiên:  Dhamma-cakka (Chuyển Pháp Luân).  

Tháp Dhamekh được các nhà khảo cổ xác định xây dựng vào năm 300 trước Tây lịch, khoảng triều đại vua A-dục. Theo vẻ xây dựng kiên cố và lời tường thuật của Pháp sư Huyền Trang, ngôi cổ tháp hẳn đã cao chừng 60m. Chiều cao của tháp hiện tại là 31,1 mét; với đường kính bên dưới là 28,3 mét, lại được xây dựng trên một nền đất cao, càng làm cho ngôi bảo tháp trở nên hùng vĩ và trang nghiêm hơn.

Hình ảnh tháp Dhamekh

Tháp Pháp Vương (Dharmarajika stupa)

Tàn tích của Tháp Pháp Vương cũng nằm gần tháp Dhamek stupa về phía Bắc, bao gồm một khu nền móng hình tròn, đó là tất cả những gì còn lại sau cuộc tàn phá của viên quan Jagat Singh nghịch đạo, đại thần của tiểu vương Chet Singh ở Benares,  phá hủy để lấy gạch năm 1794. Trong lúc triệt hạ ngôi tháp, họ tìm được một bình đá tròn ở khoảng 9m dưới đỉnh tháp, một hộp  cẩm thạch giữ một phần xá-lợi Phật mà vua Asoka đã rước về Sàrnàth từ thời phân chia lại xá lợi Phật của 7 bảo tháp  đầu tiên sau khi Phật nhật Niết-Bàn với mục đích là nơi đức Phật Sơ Chuyển Pháp Luân và thành lập Tăng đoàn cũng hưởng phần xá-lợi. Còn đại thần Jagat Singh lại giải quyết phần xá-lợi theo kiểu Ấn Độ giáo: Ông truyền lệnh làm lễ rải tro trên sông Hằng. Bảo Tháp nguyên thủy được Vua Asoka xây dựng, xưa cao 30m với một lan can bằng đá, có đường kính mặt đáy dài 13.4m, nhưng chúng đã được tăng rộng lên gấp đôi vào thời triều đại Gupta, như chúng ta được thấy ngày nay.

Tháp hạnh ngộ (Chaukhandi Stupa)

Nằm cách ngoại viên Lộc Uyển khoảng 1 km có một ngôi tháp gọi là Tháp Chaukhandi ghi dấu nơi đức Phật Thích Ca gặp lại năm anh em Kiều-Trần-Như sau khi Ngài từ Bồ đề đạo Tràng tiến bước về Lộc Uyển. Theo sự xác định của các nhà khảo cổ, tháp Chaukhandi được xây dựng vào thời đại của vương triều Gupta (thế kỉ thứ IV đến thế kỉ thứ VI sau Tây lịch). Tháp được xây để tưởng niệm nơi năm anh em Kiều-trần-như đã nghênh đón đức Thế Tôn sau khi giác ngộ giải thoát trở về. Ngôi tháp sau đó được nâng cao do việc thêm vào một toà tháp tám cạnh theo kiến trúc Mông Cổ, vào năm 1588, do Govardhan, con trai của Raja Todarmal (một vị vương công ở Ấn Độ) phát tâm kiến tạo để tưởng niệm chuyến viếng thăm thánh tích này của đại đế Mông Cổ Humayun (1508-1556).

Cũng như bao bao người trên khắp năm châu, người Ấn vẫn đề cao sự “gặp gỡ”, sự hạnh ngộ mà sau đó mang lại sự đổi thay, mang lại sự khởi đầu toàn bích. Một lần hạnh ngộ là cho tất cả. Và chính trong lần hạnh ngộ ấy đã mang lại một sự bắt đầu của suối nguồn giải thoát mang lại lợi lạc, hạnh phúc cho nhân thiên. Trong cuộc sống của chúng ta, có biết bao nhiêu cuộc gặp gỡ mà ta đã từng bước qua. Những lần hạnh ngộ ấy, là những cơ duyên giúp mọi người gần nhau hơn, hiểu nhau hơn bằng trái tim hiểu biết. Ở nơi ấy, những câu hỏi “về” và lý luận “với” của khối óc đều bất lực. Như cố thi sĩ Bùi Giáng từng thốt lên:

“Người nằm xuống từ ngàn xưa vang bóng

“Ta bước qua ngôn ngữ rụng hai lần”.

Khi ngôn ngữ rụng vỡ, đó cũng chính là lúc tâm trí thật sự bình yên, tĩnh lặng thông qua sự  tự tri, tự giác thì thực tại màu nhiệm của sự hạnh ngộ ấy mới có thể lí giải và hiển bày.

Trụ Đá Asoka.

Trong những năm đầu của chuyến hành hương chiêm bái các thánh tích Phật giáo của mình, vua Asoka thường cho xây dựng các tu viện, bảo tháp , trụ đá, bia kí…để đánh dấu những nơi gắn liền với cuộc đời hoằng hóa của đức Phật. Tuy nhiên, với chúng tôi, có lẽ, những trụ đá là có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Qua những trụ đá vững chắc, có chạm những hình tượng đặc thù và khắc những bài kinh, những chỉ dụ… đó là những bảo vật vô giá làm nhân chứng cho lịch sử hàng nghìn năm qua. Trong vô số những trụ đá, từ những trụ đá ở Bồ-đề-đạo-tràng, đến Lâm-tì-ni v.v… thì trụ đá ở Sarnath,  có lẽ là đẹp nhất và mang nhiều ý nghĩa nhất.

Trụ Đá này được tin rằng dựng lên để đánh dấu nơi Đức Phật tập họp Tăng Đoàn (Sangha) gồm 60 A-La-Hán (5 người trong nhóm Kiều-Trần-Như và 55 người trong nhóm Yasa) và đề xuất họ đi về những miền khác nhau để truyền bá giáo pháp của Đức Phật. Khoảng cuối mùa mưa, đức Phật thuyết hai bài Pháp rất quan trọng đối với việc phát triển Giáo hội tương lai. Ngài quyết định không giới hạn việc truyền bá Chánh Pháp cho riêng ngài, mà đưa cả chư Tỳ-kheo vào trọng trách này nữa. Do vậy, ngài gọi các đệ tử tụ họp lại và dạy bảo chư vị thực hiện sứ mệnh truyền giáo của mình:

“Này các Tỳ-kheo, hãy ra đi, vì lợi ích và an lạc của quần sanh, vì lòng thương tưởng đối với đời, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư Thiên và nhân loại. Đừng đi chung hai người cùng đường. Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết Pháp (Dhamma) hoàn thiện ở phần đầu (sơ thiện), hoàn thiện ở phần giữa (trung thiện), hoàn thiện ở phần cuối (hậu thiện), cả về ý nghĩa lẫn văn cú, hãy truyền bá đời phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Có những người nhiễm bụi ít trong mắt sẽ đọa lạc nếu không nghe Pháp. Song nếu chư vị ấy nghe Pháp, chư vị sẽ được giải thoát. Còn chính ta, này các Tỳ-kheo, ta sẽ đi đến thành lũy Uruvelà (Ưu-lâu-tần-loa) để thuyết Pháp”. (Mv. 1.11.1)

Trụ đá cao 15,25 mét, trên đầu trụ có tượng bốn con sư tử bằng đá rất oai hùng nhìn ra bốn hướng. Phần thân trụ tròn thon và thẳng tắp, đường kính bên dưới là 71 cm, đường kính bên trên trụ là 56 cm. Trụ được làm bằng một loại đá sa thạch đặt biệt và được mài bóng loáng.  Qua hơn 2000 năm, nay đã gãy thành nhiều đoạn vì hậu quả cuộc tàn phá Benares và Sàrnàth của tướng Qutb-ud-Din năm 1194. Phần đầu trụ đá này được lưu giữ tại viện bảo tàng quốc gia  Sarnath, gần kề khu di tích, là một cổ vật danh tiếng, có hình tượng bốn con sư tử điêu khắc tinh xảo ngồi đối lưng nhau. Vì cũng như sư tử có tiếng rống lớn nhất giữa muôn loài, vang dậy tứ phương, đức Phật là bậc Đạo Sư vang danh đệ nhất trong thời ngài và ngài hoằng Pháp khắp mọi hướng.

Đầu trụ đá hình sư tử, ngày nay là quốc huy của Cộng hòa Ấn Độ, và bánh xe pháp luân (24 nan hoa) hiện diện bốn phía ở đế của đầu trụ đá – là biểu tượng của Phật Pháp và của nền cai trị công chính – ngày nay hiện diện trên quốc kỳ Ấn Độ.

Trên thân trụ đá được vua A-dục khắc ba chỉ dụ bằng kí tự Brahmi, nét chữ hầu như vẫn còn nguyên vẹn và rõ ràng. Một trong ba chỉ dụ ấy ghi lại lời cảnh báo: “Tăng đoàn không được chia rẽ. Dù tăng hay ni, ai chia rẽ Tăng đoàn, người đó phải mặc áo trắng (bạch y) và phải ở một nơi không có Tăng đoàn”.

Tuy nhiên, vẫn có một điều gì đó trống vắng hơn trong tâm thức chúng tôi khi thấy rằng sắc dụ của hoàng đế ghi bằng chữ Bràhmì trên một phần trụ đá có vẻ như không thích hợp với nơi tôn nghiêm và quan trọng của thánh địa này. Vì sắc dụ không đề cập các sự kiện thuyết pháp đầu tiên ở Isipatana, nên người ta đã cho rằng trụ đá được mang đến Sarnàth từ một nơi nào đó. Nội dung sắc dụ phù hợp với việc thời xưa, có lẽ nó đã được đem đến từ Kosambì?.

Hình trụ đá:

Vườn nai

Câu chuyện tiền thân của đức Phật

Ở đây, ngoài tháp lớn Dhamekh và nền tháp Dharmarajika do vua A Dục xây để thờ Xá Lợi của Đức Phật, còn có hàng loạt các công trình di tích khác như các nền tháp, tu viện khác, đặc biệt là nền ghi dấu nơi trú xá của đứa Phật mùa mưa vào năm 528 trước công nguyên. Ngày nay, vẫn trong khuôn viên của khu thánh tích, chúng tôi rất thích thú ngắm nhìn những con nai thong thả dạo bước trong khu vườn. Nơi đây đã gắn liền một câu chuyện cảm động về con nai chúa, tiền thân của đức Phật

“Sarnath” trong tiếng Ấn Độ nghĩa là vườn lộc uyển hay vườn nai. Sở dĩ khu vườn có cái tên là vườn lộc uyển là bởi nó gắn với câu chuyện về tấm lòng từ bi của đức Phật khi hành hạnh  Bồ Tát là một con nai chúa. Tương truyền xưa kia, có một đàn nai hơn nghìn con sống trong khu rừng sâu, dẫn đầu là chú nai đầu đàn khỏe mạnh, thông minh. Nhưng tai họa ập đến cho khu rừng khi vị vua nơi đây rất thích ăn thịt nai và thường đi săn bắn. Để tránh được họa diệt vong, thảm sát cho bầy đàn của mình, chú nai đầu đàn (tiền thân của đức Phật) liền chạy ra khỏi rừng, xin nhà vua đừng đốt rừng, thảm sát nai. Thay vào đó, mỗi ngày đàn nai sẽ cống nạp một con nai và nhà vua đã đồng ý. Một lần nọ, con nai mẹ đang mang bầu đến phiên phải đi nộp mạng. Thương nai con trong bụng, nai mẹ xin chờ đến ngày sinh xong mới nộp mạng. Nai đầu đàn thấy vậy thương tình liền thay nai mẹ đến cống nạp cho nhà vua. Quá ngạc nhiên, nhà vua liền hỏi rõ sự tình. Khi biết được câu chuyện cảm động và sự dũng cảm, từ bi của nai đầu đàn, nhà vua hối cải, quyết định bãi bỏ lệnh cống nạp nai, phong khu rừng là vườn Lộc Uyển thiêng liêng, không ai được xâm phạm. 

Hình ảnh vườn nai

Như trong tâm tâm trí của bao người, động tâm Sarnath không dễ dàng động tâm như những thánh khác mà đoàn chúng tôi đã chiêm bái. Thả bước dạo quanh khu thánh tích, trong lặng thinh và suy niệm, chúng tôi biết rằng, đến với thánh tích Sarnath chính là trở về với cố hương, là về với nơi của cội nguồn giải thoát. Nơi đây, chúng tôi như tắm mình và uống được những ngụm nước từ bi đầu nguồn của chính kim khẩu đức Thế Tôn. Và cũng chính tại nơi này, là chiếc nôi hình thành ba ngôi báu (Tam bảo) để chúng sinh quay về nương tựa  giữa thế gian đầy lem luốc bụi trần này.

Chúng ta đến với thánh tích Sarnath để cảm nhận được lòng từ bi vô hạn của đức Thế Tôn trong tiền kiếp từng tu tập hạnh Bồ-tát trong loài nai; đến với thánh tích Sarnath để lắng lòng đón nhận thanh âm của bài pháp giải thoát đầu tiên về bốn chân lý tuyệt diệu hay con đường trung đạo, xa lìa hai cực đoan để có lối đi đúng đắn trong hành trình tu học đạo của mình.

Đâu đây, giữa những tàn tích của Vườn Lộc Uyển, chúng tôi vẫn nghe được lời hiệu triệu của đức thế tôn đối với các thầy tỳ kheo hãy lên đường giáo hóa chúng sanh: “Này các Tỳ kheo, hãy lên đường vì lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người”.

Vậy là chúng tôi đã chiêm bái, đảnh lễ đầy đủ Tứ Động Tâm, một ước nguyện mà bấy lâu nay mới được thành tựu. Như vậy, theo lời dạy của Đức Phật, những ai có đủ duyên lành hành hương chiêm bái, đảnh lễ Tứ động tâm thì được phước báo lớn lao, khó nghĩ bàn. Sau chuyến hành hương này, các hành giả sẽ có  sự chuyển hóa nội tâm để có nhận thức mới, thay đổi quan niệm sống tích cực hơn, biết tỉnh thức trước tham ái, phiền não, nên từ đó nghiệp lực cũng được cải tạo để có được niềm an lạc thật sự giữa đời này và những đời sau.

Chúng tôi hi vọng rằng, sau khi chiêm bái tứ động tâm, với sự thành tựu được tâm tịnh tín, lòng tin kiên cố, bất hoại vào Tam bảo cùng với tâm hoan hỷ, thì chắc chắn đến khi thân hoại mạng chung, các hành giả sẽ được sanh vào các cõi lành như lời xác tín của đức Thế Tôn trong kinh Đại Bát Niết Bàn.

Sau khi chiêm bái ‘Động Tâm’ cuối cùng, đoàn chúng tôi hướng về sông Hằng để đón ánh hoàng hôn trên con sông thiên của truyền thống người Ấn.

 Trước mắt chúng tôi là thành phố Varanasi cổ kính hơn hai ngàn năm nghiêng mình soi bóng bên sông, và như dần bị bao phủ bởi lớp sương dăng của chiều đông.

Chúng tôi như bị hòa lẫn vào dòng người tiến về con sông, tắm mình trong vô số những nghi lễ để chào tạm biệt ánh dương sắp lịm tắt của ngày.  Giờ đây, bờ sông hằng là nơi hội tụ tất cả tập tục văn hóa của người Ấn.

Hình ảnh sông hằng vào buổi chiều:

Varanasi, trước kia được gọi là “Benares”, lịch sử còn gọi là “Gasi” (nơi ánh sáng của các vị thần chiếu rọi). Người Ấn tin rằng, 6000 năm trước, thành phố này do thần Shiva-một vị thần của Đạo Hindu lập ra và sông Hằng là hóa thân của nữ thần Ganga, vợ của shiva. Ganga con gái thần núi Himalaya. Theo truyền thuyết Hindu, sông Hằng chảy ra từ ngón chân của thần Visnu.

Lý do để người Ấn chọn khúc sông này (chỉ khoảng 7 km) trên con sông dài 2.525 km, chảy qua thành phố linh thiêng Varanasi,  vì họ tin rằng đây là nơi ánh sáng xuống địa cầu đầu tiên và là nơi thường trú của thần Shiva.  Cho nên, chúng ta dễ dàng nhận thấy thần shiva có mặt khắp nơi. Theo truyền thuyết, thần Shiva lấy mái tóc của mình để ngăn dòng chảy, nhằm tránh nạn hồng thủy do nước từ trên trời trút xuống. Vì thế sông Hằng còn được gọi là dòng sông của trời.

Quanh đây, dường như không có chư vị thiện thần nào vốn che chở chúng tôi trên mọi nẻo đường như những ngày qua, mà chỉ có thần Shiva của Ấn giáo hiện diện khắp nơi, với đôi mắt mở to như bảo hộ, chở che, mang lại niềm tin giải thoát  cho tất cả người dân đổ về nơi này.

Ngày sắp hết, ánh mặt trời yếu ớt, vàng vọt như chuẩn bị cho giấc ngủ yên ở bờ tây sông Hằng.  Dòng người cũng bắt đầu thưa dần chỉ còn lại những đóm lửa của những nơi thiêu xác người chết. Mùi tử thi đặc quánh nơi đây, khiến ai nấy đều rùng mình với bầu không khí hôi tanh và chạnh lòng cho kiếp người bọt bèo, giả tạm.   

 Mỗi năm, hàng triệu người về đây với tâm niệm được tắm gội và rửa sạch mọi tội lỗi. Hằng ngày, hàng ngàn người tập trung về con sông để cầu nguyện, tắm rửa sạch cấu uế, để tìm lại thanh tịnh trong tâm hồn. Thống kê từ năm 2007, sông Hằng được xếp thứ 5 trên thế giới về mức độ ô nhiễm. Sự ô nhiễm đe dọa không chỉ đối với con người mà còn hơn 140 loài cá, 90 loài lưỡng cư và cá heo ở sông Hằng.  Chương trình “Hành động sông Hằng” với mục tiêu nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường của sông hầu như thất bại hoàn toàn, do thiếu chuyên môn kỹ thuật, thiếu quy hoạch môi trường tốt, và thiếu sự hỗ trợ của các chức sắc tôn giáo.

Tuy nhiên, người ta vẫn thành kính, vẫn tắm gội, vẫn uống vào người như tiếp nhận lấy dòng sữa tươi mát thanh khiết của nữ thần Ganga. Người ta chẳng hề quan tâm đến những thống kê đó. Vì tất cả chỉ là những con số do loài người đặt ra, hoàn toàn vô nghĩa với con sông do thánh thần tạo ra trên quốc độ này. Tôn giáo là thế. Mọi suy niệm của lí trí đều dừng lại, chỉ có niềm tin vượt lên và chiến thắng tất cả. Có ô nhiễm nào nguy hiểm hơn ô nhiễm tâm? Có độc hại nào đáng báo động hơn sự độc hại tham, sân, si của lòng người?. Với người Ấn, mọi nhận thức, suy tính, tất cả chỉ là tương đối. Nơi đây, chỉ có niềm tin vào thánh thần là tuyệt đối.

Đoàn chúng tôi vẫn lướt thuyền trên sông, như rũ bỏ, để lại đằng sau lưng một thế giới thực tại đầy khổ đau. Những đèn hoa được thả trên sông để cầu nguyện cho một cuộc sống bình yên, đã làm bừng lên không gian linh thiêng trong tiếng kinh cầu ven sông. Thuyền vẫn lướt nhẹ, chúng tôi chợt nghĩ về hơn 2500 năm trước, đức Thế Tôn cũng đã từng ngồi trên con thuyền để qua sông này. Lúc ấy, có một đạo sĩ dùng thần thông để bay qua, bay về hai bờ đông tây. Đức Thế Tôn bèn gọi lại và hỏi: Ông luyện thần thông bao lâu để có thể bay? 30 năm, đạo sĩ tự đắc trả lời. Đức Thế Tôn nói: Ông tu luyện mất 30 năm để được bay qua sông, trong khi đó tôi chỉ cần 2 xu tiền là có thể qua được sông.

Mắt nhìn xa xăm về bờ phía đông, chúng tôi mơ về một con thuyền Bát Nhã độ người qua sông mê.

Hình ảnh các đạo sĩ tu tập:

Không nơi nào trên thế giới có một phong tục kỳ lạ như ở Varanasi, khi trên các bậc đá ở ven sông Hằng, đống củi để hỏa táng cháy suốt ngày đêm. Đó là vì đối với tín đồ đạo Hindu, cái chết là sự kiện quan trọng nhất đời người. Khi biết mình không sống được lâu nữa, điều đầu tiên tín đồ Hindu nghĩ đến đó là hành hương về Varanasi. Vì vậy, thánh địa Varanasi có rất nhiều người già, ốm, người chết và quả phụ. Tín đồ đạo Hindu cho rằng, thi thể của người phàm phải được thiêu cháy. Chỉ có thánh nhân là ngoại lệ, bởi họ đã hợp nhất với thần. Sau khi chết, thi thể của thánh nhân được các tín đồ đặt lên vòng hoa, buộc đá đặt xuống sông Hằng. Người Ấn cũng tin rằng, có 5 hạng người sau khi chết không hỏa thiêu: trẻ em dưới 2 tuổi;  nam chưa vợ;  nữ chưa chồng; đạo sĩ, người chết vì rắn cắn (riêng người bị rắn cắn thì họ cho rằng sẽ sống lại, hoặc có thể tìm ra thuốc cứu chữa).

Hình ảnh sông hằng, bên bờ sông thiêu đốt xác chết:

Hoàng hôn đã tắt để chuẩn bị cho ánh bình minh, là khởi đầu của mọi khởi đầu. Chúng tôi đón chào ngày mới bằng việc chào tạm biệt hoàng hôn trên sông, âu cũng là điều thú vị trong sự tuần hoàn tự nhiên của đất trời.  

Tạm biệt sông hằng, tạm biệt con sông của trời, dòng sông của thánh thần, dòng sông của mẹ.

Đạo Nguyên