Đã 23 năm rồi, kể từ khi tôi biết Phật tử Năng Hạnh. Năm 1998, đạo tràng Bát quan trai Khánh Hỷ chùa Bửu Lâm ở thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được thành lập và khai giảng. Cô là một trong 30 người đầu tiên của Đạo tràng, là […]

Đã 23 năm rồi, kể từ khi tôi biết Phật tử Năng Hạnh.

Năm 1998, đạo tràng Bát quan trai Khánh Hỷ chùa Bửu Lâm ở thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu được thành lập và khai giảng. Cô là một trong 30 người đầu tiên của Đạo tràng, là người thuộc dạng phụ nữ mẫu mực miền Nam có gương mặt phúc hậu, ánh mắt đầm thắm, giọng nói hiền hòa, siêng năng chịu khó và đặc biệt là làm nhiều nói ít.

Cô hiếm khi tham gia tụng kinh, thính pháp như các Phật tử khác theo thời khóa, chỉ cặm cụi dưới bếp lo bữa ăn cho cả Đạo tràng. Tôi cũng không thể hiểu Cô học giáo lý bằng cách nào của ngày ấy, ngày mà chưa có điện thoại di động, cuộc sống chúng ta chưa có công nghệ thông tin hỗ trợ; vậy mà đến Lễ Tổng kết tất niên của Đạo tràng có chương trình kiểm tra kiến thức giáo lý, Cô đều có thể trả lời chính xác từng câu hỏi.

Đến năm 2004, Đạo tràng Huân tu của Viện Chuyên Tu tại làng Vạn Hạnh được thành lập và khai giảng tu học, Cô cũng là một trong số 30 người Phật tử đầu tiên tham gia tu học. Đến tu học với Viện Chuyên Tu, Cô nghe theo sự chỉ dạy của Ni sư Diệu Lành cùng với các chị em Phật tử của chùa Bửu Lâm chịu trách nhiệm công tác nấu ăn, hành đường cho khóa tu.

Ngày đó, Viện Chuyên Tu còn thiếu thốn lắm. Bếp không có để nấu, phải kê đá ngoài vườn để tiện nấu củi; nồi chảo, thao rổ chẳng ra hồn ra xác gì; chén tô, đũa muỗng cũng không cái nào giống cái nào… Cô đã phụ với Ni sư Diệu Lành lo những vật dụng thiết yếu cho bếp núc tạm ổn, đáp ứng nhu cầu cấp bách của khóa tu.

Thời gian 7 năm đầu Huân tu của Viện Chuyên Tu (2004-2010), từ con số 30 người ngày đầu, giờ đã lên tới 1.000 người. Tôi nói với Ni sư Diệu Lành phải lo chu đáo chuyện ăn uống cho Phật tử các nơi xa về tu học, vì có người phải thức từ 2 giờ sáng mới đi đến nơi. Thế là, mỗi khóa tu Phật tử đều được chăm lo đủ đầy ba bữa ăn trong ngày, chẳng những nấu thức ăn đầy đủ mà còn phải đảm bảo vệ sinh, chất lượng và hương vị rất thơm ngon nữa. Tất cả, đều nhờ một tay Cô đảm đương với vai trò Trưởng ban Hành đường.

Cô hy sinh và chịu khó lắm, nên ai cũng quý; Cô hiền lành và hòa ái lắm, nên ai cũng thương; Cô tận tình và chu đáo lắm, nên ai cũng mến; Cô nghiêm túc và lễ giáo lắm, nên ai cũng nể; Cô khéo léo và trách nhiệm lắm, nên ai cũng thân thiện… chính vì thế, mọi người gọi Cô bằng cái tên rất đỗi thân thương: Má Ba!

Có lần, xuống bếp thấy mọi người trong Ban hành đường nhí nha nhí nhố xúm ăn cóc xanh đập ướp nước mắm chay với ớt sừng trâu đỏ đỏ, tôi nhìn mà thèm không chịu được nên cũng xà xuống kéo ghế ngồi, vói tay định bóc một trái. Ai nấy đều đứng lên chào rồi ngồi xuống và im bặt vì sự xuất hiện của tôi, tôi cố cười tươi mà mọi người lặng lẽ đến lạ. Cô nhanh nhẹn lấy một cái dĩa nhỏ, gắp trái cóc ra mang đến trước mặt tôi, Cô nói để phá tan bầu không khí đang cao trào bỗng bị tuột dốc: “Bạch thầy, ăn cóc phải bóc bằng tay mới ngon.” Một cái tay của ai đó kéo áo Cô, nói khẽ: “Má Ba, lấy ớt nhiều quá sao thầy ăn được?” Cô cười nhẹ, hiện rõ 2 đồng tiền lún sâu trên má thật duyên, hướng về tôi: “Bạch thầy, có chút ớt cay cay thì mới cảm nhận được vị mặn của nước mắm, vị chua của trái cóc!” Tôi vừa lấy cóc ăn, vừa nhìn Cô mà cười hỏi: “Thầy thắc mắc bấy lâu, hễ ‘Má’ là má, ‘Ba’ là ba, tại sao con lại là vừa ‘Má’ vừa ‘Ba’? Hay là con muốn làm ‘Má’ rồi định muốn làm ‘Ba’ trong thiên hạ nữa phải không?” Mọi người cười rúc rich, Cô bẽn lẽn nhìn Ni sư Diệu Lành cầu cứu. Ni sư Diệu Lành, cười giải thích: “Dạ, cô Năng Hạnh thứ Ba, vì chuyên lo chuyện bếp núc trong chùa con bấy lâu khi có lễ nên mấy đứa nó kêu Cổ là “Má Ba’ đó, bạch thầy.” Tôi cắc cớ hỏi tiếp: “Vậy thầy cũng kêu con bằng ‘Má Ba’ luôn nghe!” Cô từ chối thật hiền lương, mắc cười: “Dạ thôi, con tổn phước chết, bach thầy.” Tôi lại cố trêu chọc: “Vậy thầy kêu con là ‘Má Tám’ nghe, tên này dễ thương hơn nè!” Cả nhà bếp vang tiếng cười của cuối ngày Huân tu, nắng còn vương sót lại trên những ngọn cây.

Suốt 17 năm qua, Phật tử xa gần của Viện Chuyên Tu hầu như đều biết Cô. Ai về tham dự Huân tu đều vào bếp kiếm Má Ba hết, vì gặp được Má Ba thì coi như không phải lo chuyện đói cơm thiếu nước. Bất luận mệt đến đâu, không nghe thấy Cô than; cho dù là gặp người khó tính, Cô vẫn nhẹ nhàng đối đãi; ai cần gì Cô đều đáp ứng trong hòa ái… đức hạnh dường ấy, thuần hòa dường ấy!

Những tưởng, sau đại dịch mọi người sẽ gặp lại nhau trong Huân tu với bao nhớ nhớ thương thương của nghĩa tình đồng tu dưới mái nhà chung Viện Chuyên Tu. Nào ngờ, cơn lốc dịch bệnh Covid-19 đã cuốn Cô về cõi vô cùng, để lại bao tiếc thương vô hạn trong lòng của huynh đệ, pháp hữu cùng tu.

Than ôi!

Sóng Long Hải lao xao,

Gió Chuyên Tu ngừng thổi.

Người về giữa cõi sắc không,

Chùa xưa bạn cũ lệ hồng xót xa.

Từ nay,

Bạn bè đến Huân tu hội tụ

Cớ sao người nỡ vội bỏ đi?

Lặng thinh chẳng nói câu gì

Dương trần khổ lụy, hình hài khói sương.

Thôi thì,

Chớ ưu sầu vấn vương

Người đà yên giấc ngủ

Bên tiếng niệm Di Đà

Mong an giấc ngàn thu.

 

Vạn Hạnh, ngày 14/8/2021

TT. Thích Thiện Thuận