Sáng nay, ngày 10/7/2025 (nhầm ngày 16/6/Ất Tỵ), Hòa thượng Thích Thông Không đã quang lâm Trí Thắng Đường, trường hạ chùa Vạn Thiện, tiếp tục ban thời pháp nhũ với tác phẩm: “Khóa Hư Lục” của Thiền sư Trần Thái Tông đến chư hành giả hạ trường. Sau khi đất nước thái bình, vua […]

Sáng nay, ngày 10/7/2025 (nhầm ngày 16/6/Ất Tỵ), Hòa thượng Thích Thông Không đã quang lâm Trí Thắng Đường, trường hạ chùa Vạn Thiện, tiếp tục ban thời pháp nhũ với tác phẩm: “Khóa Hư Lục” của Thiền sư Trần Thái Tông đến chư hành giả hạ trường.

Sau khi đất nước thái bình, vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho con vào năm 1258, lên làm Thái thượng hoàng. Từ đó, Ngài vừa làm cố vấn cho vua Trần Thánh Tông, vừa chuyên tâm nghiên cứu Thiền. Đến khi Thánh Tông đủ sức quán xuyến việc nước, Thái Tông lui về am Thái Vi, vùng rừng núi Vĩ Lâm (Hoa Lư), an dân lập ấp và tu hành.

Khi bệnh sắp lâm chung, Thánh Tông thưa hỏi:

“Chân không và ngoan không là đồng hay khác?”

Thái Tông đáp:

“Hư không là một, chỉ vì tâm mình mê ngộ nên có chân và ngoan. Như phòng nhà mở cửa thì sáng, đóng cửa thì tối; sáng tối chẳng đồng mà phòng nhà vốn một.”

Quốc sư Đại Đăng đến thăm, hỏi:

“Bệ hạ bệnh chăng?”

Thái Tông trả lời:

“Tứ đại là bệnh. Cái này xưa nay sanh tử không can hệ, sao lại dính kẹt trong bệnh hoạn?”

Vài hôm sau, Thái Tông im lặng, đuổi hết kẻ hầu hạ, dặn dò việc nước cho Thánh Tông. Thánh Tông muốn mời Quốc sư Phù Vân và Đại Đăng thuyết pháp xuất thế cho Ngài. Thái Tông gằn giọng bảo:

“Đến trong đây, bớt một mảy tơ như khoét thương, thêm một mảy tơ như bụi vào mắt. Ba đời chư Phật bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ sư thối thân có phần. Dù Phù Vân nói huyền, Đại Đăng thuyết diệu, đều là lời thừa, có ích gì đối với cái này?”

Nói xong, Ngài lặng lẽ thị tịch, năm Đinh Sửu (1257), hưởng thọ 60 tuổi.

Đoạn thoại trên là minh chứng tinh túy cho tinh thần Thiền học: giải thoát không thể dựa vào lời nói, ngôn ngữ hay trí năng. “Đến trong đây” tức chỉ cảnh giới chân như, cảnh giới giác ngộ tuyệt đối. Trong đó, thêm hay bớt đều là vướng mắc.

“Bớt một mảy tơ như khoét thương, thêm một mảy tơ như bụi vào mắt.”

Cảnh giới chân thật của đạo vốn trọn vẹn, không thể can thiệp, không thể bàn luận. Dùng ngôn ngữ, phân tích chỉ làm che khuất bản thể chân thật. Đây chính là tinh thần “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” – không nương nơi chữ nghĩa, trực chỉ nhân tâm.

“Ba đời chư Phật” chỉ quá khứ, hiện tại, vị lai. “Bốn mắt nhìn nhau” biểu trưng cho sự đồng chứng, tương thông, không cần ngôn từ mà tự hiểu. “Sáu đời Tổ sư thối thân có phần” nhắc đến sự xả bỏ thân xác giả tạm, thân vốn là hợp tạm của tứ đại. Giác ngộ không nằm ở thân, mà ở tâm, ở sự thấy biết trực tiếp.

“Dù Phù Vân nói huyền, Đại Đăng thuyết diệu, đều là lời thừa.”

Dẫu lời nói huyền diệu đến đâu, cũng không thể giúp người chứng ngộ nếu không tự mình thực chứng, buông xả. Pháp thân (Dharma-kāya) là thân chân lý, bản thể tuyệt đối, không hình tướng, không sinh không diệt. Là thực tại tối hậu, vượt ngoài mọi khái niệm, mọi nhị nguyên. Đức Phật Thích Ca sau khi thành đạo, được xem là đã thể nhập pháp thân, đồng nhất với chân lý vũ trụ.

Pháp thân không thuộc sắc tướng, nên “bất diệt”. Không sinh, không diệt, không tăng, không giảm, không bị chi phối bởi thời gian hay không gian. “Sống với pháp thân bất diệt” nghĩa là sống với Phật tánh sẵn có, không đồng hóa với thân thể vô thường, không bị cảm xúc chi phối, an trú trong chân như, ngay giữa cuộc đời này mà vẫn Niết bàn. Trong Kinh Lăng Già, Phật dạy:

“Pháp thân Như Lai là vô hình tướng, vô sinh diệt, tánh giác tròn đầy, không tăng giảm.”

Kinh Đại Bát Niết Bàn dạy rằng: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh… Phật tánh chính là pháp thân, là thường, lạc, ngã, tịnh.”

Người tu, khi thể nhập pháp thân, sẽ thấy rõ thân tâm là giả hợp, vô thường, nhưng không còn sợ hãi, không còn chấp thủ. Trí tuệ vô phân biệt khởi hiện, tâm an nhiên, tự tại. Vua Trần Thái Tông đã sống trọn vẹn với pháp thân bất diệt, thể nhập chân lý tuyệt đối, không còn bị chi phối bởi sanh tử hay bệnh hoạn. Đó chính là đỉnh cao của hành trình tu tập: buông xả hết thảy, sống với tự tánh thanh tịnh, giác ngộ thực tại tối hậu.