Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch Thầy, Ngay sau khi thọ nhận bát kỉnh pháp, được sự cho phép của Đức Thế Tôn, hoàng hậu Gotami cùng 500 nữ nhân dòng tộc Sakya đã trở thành những vị Tỳ-kheo-ni đầu tiên trong giáo đoàn, chính thức bước vào đời sống […]

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch Thầy,

Ngay sau khi thọ nhận bát kỉnh pháp, được sự cho phép của Đức Thế Tôn, hoàng hậu Gotami cùng 500 nữ nhân dòng tộc Sakya đã trở thành những vị Tỳ-kheo-ni đầu tiên trong giáo đoàn, chính thức bước vào đời sống xuất gia phạm hạnh. Hình ảnh của những phụ nữ cao quý đó đã nói lên rằng: Thước đo quan trọng nhất đối với con người không phải ở vị trí của họ trong cung vàng điện ngọc, vinh hoa phú quý mà ở chỗ đứng của họ trước những thách thức và gian truân.

Thật như thế, việc từ bỏ cuộc sống nhung lụa trong hoàng cung với bao kẻ hầu người hạ để chọn cuộc sống gió sương không nhà rày đây mai đó, trì bát khất thực… với tâm trạng biết ơn, hân hoan, là một kỳ tích thiêng liêng, một thánh hạnh rực rỡ của Hoàng hậu Gotami và những nữ nhân trong hoàng tộc. Bằng tư duy, nhận thức đúng, họ đã nhìn thấy sự thanh cao của đời sống xuất gia cho dù nghiệt ngã, khó khăn vất vả để rời xa những thú vui nhỏ nhoi của đời sống thế tục. Chính điều đó đã làm nên ý chí, nghị lực của họ ngay từ những ngày đầu bước chân vào Ni đoàn cho đến khi họ thành tựu đạo quả. Họ luôn an lạc trong đời sống phạm hạnh sa-môn giản dị, vô sự, vô sở hữu và nỗ lực tìm đến sự thanh tịnh của chân tâm.

Đức Phật hoàn toàn tin tưởng vào tài năng, đức hạnh và sự nỗ lực tu tập của Ni trưởng Kiều Đàm Di và hội chúng trong Ni viện. Ngài đặt ra Bát kỉnh pháp chính là giúp nữ nhân trong dòng tộc Sakya nói riêng và giới nữ nói chung có một chế định, một cửa ngõ để bước chân vào đời sống phạm hạnh và có cơ hội để trưởng dưỡng đạo tâm. Với những người trọn vẹn với lý tưởng giải thoát thì những điều kiện đó không hề khắt khe mà thực sự là phương tiện, là cứu cánh hữu hiệu để họ có thể đạt được mục đích cao nhất của đời sống phạm hạnh. Cũng từ những điều kiện ấy, công nương Yasodhara và hơn trăm cung nga thể nữ đã được nhập chúng, trở thành Tỳ-kheo-ni ngay sau thời gian đó.

Việc Đức Phật đồng ý cho nữ giới xuất gia là vượt qua mọi chế định của xã hội Ấn Độ cổ đại, vượt lên trên mọi búa rìu của dư luận bởi tư tưởng trọng nam kinh nữ đã bám rễ quá sâu trong tâm thức các thế hệ, trên mọi phương diện xã hội do ảnh hưởng của kinh điển Vệ-đà. Sẽ không thể tránh khỏi những phản đối, cản trở bằng nhiều hình thức, qua việc làm, hành vi, lời nói từ nhiều phía, nhiều tầng lớp, điều đó có nghĩa là Tăng đoàn phải đối diện với những khó khăn không nhỏ. Hiểu thấu được những thử thách đó, Đức Phật và các vị thượng thủ trong Tăng đoàn đã chủ động những giải pháp để đem lại sự an toàn cho Ni giới, bảo đảm nề nếp, kỷ cương trong Ni viện và quan trọng là tạo môi trường tu học tốt, hỗ trợ các Tỳ-kheo-ni trau dồi giới đức ngay từ những buổi đầu.

Nội quy đầu tiên với 21 điều đã được Ni viện đón nhận, ghi nhớ thực hành. Nếu bát trọng pháp là những điều kiện để Ni chúng lìa bỏ tính cống cao, ngã mạn, hướng đến tâm khiêm cung, cầu thị. 21 điều nội quy đầu tiên được xem là những nội dung ban đầu nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương đạo đức của tổ chức tu học, sinh hoạt của Ni chúng trong một Ni viện, là tiền đề căn bản để hình thành hệ thống giới điều cho Tỳ-kheo-ni tuân thủ thực hành, trưởng dưỡng đạo hạnh.

Đức Phật đặc biệt quan tâm tới việc truyền dạy giáo pháp cho Ni giới qua những thời pháp quan trọng dẫn nhập và Ngài đã ủy nhiệm cho hai đại đệ tử là Ngài Xá-lợi-phất, Ngài Mục-kiền-liên đảm trách việc giáo giới pháp học và pháp hành căn bản cho Ni chúng để từng bước có được đời sống luật nghi thanh tịnh, ổn định, bền vững.

Từ tâm thiết tha cầu đạo, khép mình vào nếp sống kỷ cương, chuyên cần, tinh tấn nỗ lực tu tập, sau một thời gian ngắn Ni trưởng Gotami và hội chúng trong Ni viện đã thành tựu được Thánh quả,  nhiều vị đã chứng được quả Thánh thứ tư. Giới nữ xin xuất gia ngày càng đông đảo, tổ chức Ni viện càng thêm lớn mạnh, Tỳ-kheo-ni đã chứng minh được được mọi khả năng về trí tuệ, về thiền định, về thuyết pháp, về giới luật, về tâm từ, về khổ hạnh, về bố thí… tạo nên những hành trạng đặc biệt, thù thắng, đóng góp to lớn trong sự phát triển rực rỡ của Giáo hội Tăng đoàn, xứng đáng có vị trí ngang hàng với nam giới về khẳ năng tu tập và đắc chứng giác ngộ.

Việc Đức Phật cho phép thành lập Ni viện là một cuộc cách mạng vĩ đại, mở ra một kỷ nguyên, giải phóng cho giới nữ thoát khỏi mọi buộc ràng, phân biệt đối xử bất bình đẳng từ chế định luật Manu của Bà-la-môn giáo từ tư tưởng trọng nam khinh nữ đã bám dễ trong tâm thức của các thế hệ, trên mọi phương diện sinh hoạt xã hội từ hàng ngàn năm trước. Nhờ cuộc cách mạng ấy, những nữ nhân thời đó đã tìm được hạnh phúc đích thực từ pháp học và pháp hành do Đức Thế Tôn truyền dạy.

Dù đã gần ba thiên niên kỷ nhưng giáo pháp, tư tưởng của Ngài vẫn còn nguyên giá trị, Ni đoàn ngày càng lớn mạnh, những nữ tu sĩ vẫn nỗ lực, quyết cầu chánh pháp, sắt son niềm tin vào con đường đã chọn, vào chân lý giải thoát giác ngộ, tận tâm, tận lực vì Đạo pháp… như những vị Tỳ-kheo-ni đầu tiên được Ngài hóa độ năm nào.

Phật tử Trung Anh

Cẩn ghi