Mỗi tôn giáo đều có sự phát triển theo chiều hướng thịnh và suy, đó là hai mặt tất yếu của một hiện tượng, trong triết học hay nhắc tới hai cụm từ “hiện tượng” và “bản thể” trong khi hiện tượng lúc nào cũng luôn luôn thay đổi thì bản thể lúc nào cũng luôn tồn tại…

Sáng ngày 21/06/2024 (16/05/Giáp Thìn), Thượng tọa Thích Trí Định, Phó Thư ký kiêm Trưởng ban Thông tin – truyền thông PG tỉnh, Phó Trưởng ban Hoằng pháp PG tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu, trụ trì Hương Hải thiền viên đã quang lâm về giảng đường chùa Vạn Thiện để tiếp tục chia sẻ pháp thoại xoay quanh chủ đề “nguyên nhân suy tàn của Phật giáo”

Mỗi tôn giáo đều có sự phát triển theo chiều hướng thịnh và suy, đó là hai mặt tất yếu của một hiện tượng, trong triết học hay nhắc tới hai cụm từ “hiện tượng” và “bản thể” trong khi hiện tượng lúc nào cũng luôn luôn thay đổi thì bản thể lúc nào cũng luôn tồn tại. Vậy thì hành giả tu học Phật pháp phải nắm được bản thể, chẳng hạn bản thể pháp tu, nếu hành giả thích tu thiền, có duyên với pháp môn thiền thì cho dù một mình cũng vẫn quyết chí tu, đó gọi là nắm rõ giáo lý của Phật và đi vào bản thể, nếu hành giả không vững tâm sẽ có xu hướng chạy đuổi theo những pháp môn đang hưng thạnh, cứ vậy mà chạy theo hiện tượng và không kiên định lập trường dẫn đến suốt cuộc đời không có pháp nào tu tập trọn vẹn cả.

Quay trở lại với vấn đề thịnh suy của Phật giáo Sri Lanka, một quốc đảo ở phía nam Ấn Độ. Đây là quốc gia nhận được sự ưu ái đầu tiên khi đại đế Asoka (vua A Dục) đã thương tưởng cử một trong 9 phái đoàn truyền giáo đi truyền bá giáo lý Phật pháp mang lại đời sống an lạc cho người dân xứ này.

Dựa trên cuốn sách “Phật giáo Tích Lan”, (tác giả Trần Quang Thuận, xuất bản năm 2008) thầy giáo thọ đã chia sẻ tới chư hành giả an cư những điểm quan trọng của lịch sử truyền giáo từ Ấn Độ sang Tích Lan (Sri Lanka) đặc biệt là quá trình hai người con của vua A-dục được cử đi truyền đạo. Với uy tín của vua A-Dục, quốc vương của một nước lớn, hoàng tử Mahinda được xuất gia và lãnh đạo phái đoàn truyền giáo sang Tích Lan một cách dễ dàng; một thời gian sau đó, vua A-dục cũng chấp thuận tâm nguyện của công chúa Sanghamitta được xuất gia và đi sang Tích Lan để thành lập Ni đoàn. Thể theo lời yêu cầu của tỳ-kheo Mahinda, Sanghamitta mang theo một cây con chiết từ một nhánh hướng về phía Nam của cội Bồ Đề đã che mưa đỡ nắng cho Bồ Tát Gotama trong 49 ngày thiền định. Từ đó về sau Phật giáo Tích Lan trải qua nhiều đời được vua chúa ủng hộ và phát triển cực thịnh, cội bồ-đề cũng được xem là quốc bảo.

Trong khi đó tại Ấn Độ cổ đại, đến thế kỷ thứ 6, vua Sasanka xứ Ganda (Bengal) vì tin tưởng sự đồng hóa của bà-la-môn giáo với Phật giáo với tư tưởng “Phật Thích Ca chỉ là hóa thân thứ 9 của vị thần Shiva”, đã đốt cây bồ-đề, thay tượng Phật bằng tượng thần Shiva và tôn sùng đạo bà-la-môn. Cùng chung với số phận thăng trầm của lịch sử Phật giáo Ấn Độ, cây bồ-đề đã nhiều lần bị chặt đốt, thiêu hủy do thiên tai và những người muốn xóa tan vết tích của nó. Thế nhưng trải qua bao nguy khốn của thời cuộc, nhờ các vị đế vương có niềm tịnh tín với Phật pháp trồng mới, dòng dõi hậu duệ của cây bồ-đề vẫn không tuyệt diệt mà tiếp tục bám trụ, đâm chồi nảy lộc; đời sau nối tiếp đời trước che bóng mát cho nơi mà Đức Phật đã ngồi thành đạo khi xưa và còn được Phật tử đem lan tỏa đi khắp nơi trên thế giới.

Vì vậy xét về mặt bản thể hành giả không có gì để lo lắng, bởi thịnh suy chỉ là chuyện bình thường của cuộc đời này, chỉ cần nương theo lời dạy của Phật và tự mình xây dựng niềm tin kiên cố nơi chánh pháp. Giáo thọ sư khuyến tấn chừng nào vẫn có cơm gạo nuôi dưỡng thân mạng và được sống trong sự an tịnh, hòa hợp chốn thiền môn để nuôi dưỡng huệ mạng thì người xuất gia vẫn bình thản, an nhiên, dõng mãnh tấn tu đạo nghiệp.