Sáng ngày 13/06/2024 (08/05/Giáp Thìn), Thượng tọa Thích Trí Định, Phó Thư ký kiêm Trưởng ban Thông tin – truyền thông PG tỉnh, Phó Trưởng ban Hoằng pháp PG tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu, đã quang lâm về giảng đường chùa Vạn Thiện để tiếp tục chia sẻ pháp thoại với lớp học an cư. […]

Sáng ngày 13/06/2024 (08/05/Giáp Thìn), Thượng tọa Thích Trí Định, Phó Thư ký kiêm Trưởng ban Thông tin – truyền thông PG tỉnh, Phó Trưởng ban Hoằng pháp PG tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu, đã quang lâm về giảng đường chùa Vạn Thiện để tiếp tục chia sẻ pháp thoại với lớp học an cư.

Bước vào buổi giảng, Thượng tọa giáo thọ đã triển khai vấn đề: tại sao Phật giáo bị suy tàn tại ở Ấn Độ nhưng lại phát triển rầm rộ ở các quốc gia khác? (đó là những câu hỏi mà nhiều nhà triết gia, sử gia đã đặt ra). Từ sau thế kỷ XII, là thời đại cực thịnh của Phật giáo ở Việt Nam thuộc triều đại nhà Lý, cùng lúc đó, hình bóng tăng lữ trên đất nước Ấn Độ không còn, trong khi diện tích lãnh thổ rộng lớn và dân số Ấn Độ rất đông.

Phật giáo ở Ấn Độ đã bộc lộ những dấu hiệu suy thoái, để rồi cuối cùng gần như diệt vong trên mảnh đất mà nó được sinh ra. Ở Việt Nam, Trung Hoa Phật giáo cũng có nhiều thịnh có suy theo các thời kỳ, nhưng hình bóng chư tăng và chùa chiền vẫn còn, sau khi thảm họa kết thúc vẫn có những vị Thánh tăng với đức hạnh và trí tuệ lớn làm sứ mệnh “chấn hưng”. Riêng Ấn Độ thì phải bắt đầu “phục hưng” hoàn toàn vì nền Phật giáo đã mất gốc.

Giáo thọ sư đã nhắc lại sáu lý do khiến Phật pháp tại Ấn Độ suy tàn, đó là: sự suy thoái về nếp sống đạo đức của tăng đoàn; thất bại về xã hội của Phật giáo; đồng hóa Phật giáo và Ấn Độ giáo; sự thù địch của đạo Bà-la-môn; cuộc xâm lược của người Hồi giáo; đặc trưng tinh hoa của Phật giáo.

Một số quan điểm khác thì cho rằng do các tăng sĩ lỗi lạc của Ấn Độ đi ra nước ngoài để truyền bá Phật giáo nên không còn ai giữ gìn Phật giáo trong nước thời bấy giờ. Nghĩa là không có bậc Thánh tăng nào xuất hiện để thay đổi vận mệnh của Phật pháp. Một trong những biểu hiện của sự suy tàn là tình trạng thoái hóa về tu dưỡng đạo đức của người tu; xung đột tư tưởng, pháp môn tu.v.v… Khi ngài Huyền Trang từ Trung Hoa đặt chân đến Ấn Độ ở tại Đại học Nalanda và thăm viếng các Thánh tích trong giai đoạn từ năm 629 – 645, thì Phật giáo Ấn Độ gần như không còn sức sống, chỉ có một số ít tu viện, còn phần lớn thì đều đổ nát và rơi vào hoang phế. Thời điểm Hồi giáo xâm lăng thì không còn bóng dáng Phật giáo trên đất Ấn nữa. Tuy vậy, tinh thần Phật giáo vẫn ẩn tàng trong lòng xã hội Ấn Độ.

Cho đến khi Mahatma Gandhi, một vị anh hùng dân tộc của Ấn Độ, người chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân Đế quốc Anh, giành độc lập cho đất nước; ông phản đối tất cả các hình thức khủng bố bạo lực và thay vào đó chỉ áp dụng những tiêu chuẩn đạo đức tối cao; lấy từ niềm tin truyền thống của Ấn Độ giáo: Chân lý và bất bạo lực. Chính ông nói rằng: “Tôi chẳng có gì mới mẻ để dạy đời. Chân lý và bất bạo lực đều có từ xưa nay”.

Nói đến Ambedkar, một người bình dân, nhưng lại là người duy nhất thuộc giai cấp nô lệ đã thành công trong lãnh vực học thuật và chính trị và còn là một Phật tử đầy nhiệt huyết muốn khôi phục lại nền văn minh tâm linh của đất Ấn. Kể về cuộc đời của Ambedkar, giáo thọ sư cho biết tuy xuất thân trong giai cấp nghèo khổ, nhưng ông là người trí thức bậc nhất xứ Ấn Độ vào khoảng thế kỷ XIX, được Mahatma Gandhi rất kính trọng và mời soạn hiến pháp. Từng bị phân biệt đối xử tại trường học, công sở.v.v…bị hạn chế các quyền lợi trong mọi lĩnh vực cuộc sống, vì thế ông đồng cảm với những người thuộc giai cấp thấp, nỗ lực xóa bỏ giai cấp trong xã hội, tổ chức nhiều đại hội giai cấp cho tầng lớp tiện dân, lập ra nhiều hiệp hội đấu tranh yêu cầu quyền bình đẳng cho người nghèo trong xã hội.

Ambedkar đã hoàn thành sự cải đạo sau khi dấn thân tìm hiểu, cân nhắc kỹ lưỡng các hệ tư tưởng của những đạo phái khác nhau hiện đang có mặt trên đất nước Ấn Độ lúc bấy giờ. Ngày 14/10/1956, sau khi quy y Tam bảo, chính thức trở thành đệ tử tại gia trong Phật pháp, Ambedkar liền phát biểu: “Bằng việc từ bỏ tôn giáo cũ và quy y Tam bảo, hôm nay tôi như được tái sinh. Sự quy y hôm nay đã làm tôi hết sức hài lòng và hạnh phúc không thể tưởng tượng. Tôi cảm thấy rằng mình như vừa được giải thoát từ địa ngục vậy. Từ nay tôi không còn thờ các vị thần đạo Hindu nữa mà thực hành theo Chính pháp. Tôi sẽ sống theo Bát chánh đạo mà Đức Phật đã dạy. Phật giáo là một tôn giáo chân chính và tôi sẽ hướng cuộc đời mình dưới sự chỉ dẫn của từ bi, trí tuệ và lẽ phải”. Sự kiện này khiến cho 500.000 người ủng hộ ông cũng cải đạo quy y theo Phật giáo. Trước khi qua đời, ông đã cố gắng hoàn thành tác phẩm “The Buddha and His Dhamma” (Đức Phật và Giáo lý của Ngài).

Qua buổi học này, Thượng tọa giáo thọ đã tiếp thêm niềm tin cho chư hành giả an cư, chỉ rõ sự thịnh suy của thời cuộc, khuyến tấn hành giả an cư nên bình thản và giữ mình, an trú trong chánh niệm và siêng năng hành trì, để gìn giữ phát huy những giá trị tốt đẹp của Phật pháp. Trong cuộc sống tu hành bất cứ ai cũng cần trải qua ít nhất là một lần thất bại mới có thể rèn dũa, nuôi lớn ý chí cầu đạo giải thoát của mình.