Nam mô A Di Đà Phật. Kính bạch Thầy, Một ai đó đã nói: Hãy mơ những gì bạn muốn mơ, hãy tới những nơi bạn muốn tới, hãy trở thành một người nào nếu bạn muốn, bởi vì bạn luôn có một cuộc sống và cơ hội để thực hiện. Mong ước của Hoàng […]

Nam mô A Di Đà Phật.

Kính bạch Thầy,

Một ai đó đã nói: Hãy mơ những gì bạn muốn mơ, hãy tới những nơi bạn muốn tới, hãy trở thành một người nào nếu bạn muốn, bởi vì bạn luôn có một cuộc sống và cơ hội để thực hiện. Mong ước của Hoàng hậu Gotami năm nào đã thành hiện thực nhờ thắng duyên và cơ hội từ Đức Phật và Tăng đoàn đem tới. Bà cùng năm trăm mệnh phụ phu nhân, công nương, giới nữ trong hoàng cung đã trở thành những vị Ni đầu tiên của Tăng đoàn, mở đầu cho hoạt động của một tổ chức Ni viện trong lịch sử Phật giáo từ gần ba ngàn năm trước.

Khác với hệ tư tưởng của mọi giai cấp, xã hội Ấn Độ cổ đại, Đức Phật luôn đánh giá đúng tính cách, phẩm chất, nghị lực, năng lực, nhận thức của người phụ nữ. Ngài luôn ân cần, dùng phương tiện khuyến khích nữ giới tu tập tại gia đình và khẳng định người phụ nữ tại gia nếu quyết tâm tu tập sẽ đạt được thành tựu giác ngộ, giải thoát như nam giới, như những bậc xuất gia, bởi vì tất cả chúng sinh đều có cùng một bản thể, không có gì sai khác và đều có Phật tính, sự khác biệt giữa giới tính không phải là căn bản, sự giác ngộ của tâm thức mới thật sự quan trọng.

Tuy nhiên, Đức Thế Tôn không tán thành việc nữ giới gia nhập Tăng đoàn, bởi đây là vấn để lớn liên quan đến nhân duyên, đến mạng mạch của Phật pháp, đến hoàn cảnh đặc thù và tình thương vô bờ của Ngài với người phụ nữ. Vì đời sống xuất gia quá khó khăn, vất vả, gian lao trước nắng mưa sương gió, cơ cực thiếu thốn, không cửa không nhà, hiểm nguy rình rập. Chính vì vậy, ba lần Di mẫu của Ngài – Lệnh bà Gotami xin phép Ngài được xuất gia, Ngài đều khẳng khái từ chối: “Không đươc đâu, thưa Di mẫu! Đời sống xuất gia không thích hợp cho nữ giới đâu”.

Trước sự từ chối của Đức Thế Tôn, Hoàng hậu Gotami đã rất buồn nhưng không nản chí, Bà đã tự tay xuống tóc, đắp y, cùng 500 mệnh phụ phu nhân, công nương, quận chúa, nữ giới trong cung, rời hoàng cung, chân trần bộ hành vượt chặng đường xa đến gần ba mươi do tuần (khoảng 350 km) đến kinh thành Vesali, tiếp tục xin phép Đức Phật cho giới xuất gia cầu Đạo.

Trong lần này, sau khi hội kiến các vị Trưởng lão của Giáo đoàn và quán nhân duyên, Đức Thế Tôn đã đồng ý cho hoảng hậu Gotami cùng giới nữ của tộc Sakya được xuất gia với 8 điều kiện pháp chế. Bản chất của những quy chế đó là những công năng ngăn chặn những tệ tật có thể phát sinh, bảo vệ tu sĩ nữ trước ngoại cảnh và quan trọng hơn, đó chính là cánh cửa mở để nữ giới được bước vào Giáo đoàn. Thọ trì tám điều kiện các nữ nhân hoàng tộc mới có cơ hội dập tắt được tính ngạo mạn, tự tin do địa vị dòng tộc để bước vào giáo pháp vô ngã, vô sản bần hàn của Đức Thế Tôn.

Một buổi Lễ thật đặc biệt đã được diễn ra tại giảng đường lớn, khu rừng Mahavana thuộc thành Tỳ-xá-ly, Đức Phật đã cho phép hoàng hậu Gotami và nữ giới của dòng họ Sakya được xuất gia tu tập theo phạm hạnh, sống trong pháp và luật của Đức Thế Tôn. Kể từ đây, giáo hội Ni đoàn chính thức được thành lập, mở ra cơ hội cho người phụ nữ thực hiện lý tưởng cao đẹp của mình.

Với bà Kiều Đàm Di, việc được đứng trong hàng ngũ Tăng đoàn là một niềm vui sướng, hạnh phúc tột độ. Bà mong ước được xuất gia không phải vì Bà buồn sau cái chết của Đức vua Tịnh Phạn, không phải vì Hoàng cung hiu quạnh do thiếu con cháu; Bà quyết chí xuất gia vì có niềm tin lớn lao vào lựa chọn của đứa con trai mà Bà yêu thương hơn cả bản thân mình và tin vào những chân lý vi diệu mà Ngài cùng các Đệ tử của Ngài đã giảng giải, thực hành. Từ đó, Bà khát khao tu tập để thực sự được giác ngộ, giải thoát. Bà luôn nhận thức sâu sắc rằng nhan sắc của người nữ, địa vị xã hội, của cải vàng bạc không là thứ quý, không bao giờ sánh được với Ba ngôi quý báu nhất mà Bà đã thấy là Phật bảo, Pháp bảo vì chỉ có Tam báo mới mang tới hạnh phúc thực sự cho con người.

Vậy là mong ước bao ngày của Bà đã thành hiện thực, Bà đã có cơ hội học và thực hành giáo pháp đến trọn đời. Bà hiểu được đó là đặc ân to lớn mà Đức Thế Tôn đã dành cho Bà và tất cả những người phụ nữ khác có tâm cầu Phật. Từ sâu thẳm trong lòng, Bà xác quyết hành động để đền đáp ân tình đó. Và thật như thế, cuộc đời hành đạo của Bà là tấm gương sáng ngời về công hạnh mẫu mực, công trạng to lớn của bậc Ni trưởng lỗi lạc.

Có thể nói, quyết định cho phép thành lập tổ chức Ni viện trong Giáo đoàn của Đức Thế Tôn, ủng hộ nữ giới xuất gia là một cuộc cải cách vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại nói chung và xã hội Ấn Độ cổ đại nói riêng. Quyết định đó đã làm rung chuyển các thể chế, hệ tư tưởng “trọng nam khinh nữ” bám rễ từ ngàn đời, đưa vị trí của người phụ nữ trong gia đình và xã hội về đúng với điểm phù hợp với vai trò, phẩm chất, nghị lực, năng lực, trí tuệ của họ đã có từ vô thuỷ. Quyết định đó chính là minh chứng thuyết phục nhất về lòng từ bi của Đức Phật với mọi loài, mọi người, về tình thương yêu vô hạn của Ngài đối với giới nữ và là điểm vàng sáng chói nâng đỡ, giúp người phụ nữ xác lập vị thế trong xã hội để thực hiện quyền bình đẳng, vững tin trên con đường tìm cầu giác ngộ, giải thoát.

Phật tử Trung Anh

Cẩn ghi