Nam mô A Di Đà Phật! Kính bạch Thầy, Con tự hỏi, có thể có ai trong chúng con hôm nay đã từng là tứ chúng tham gia, cuộc tiễn đưa vĩ đại, Lễ rước xá-lợi của Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên nhập bảo tháp từ gần ba ngàn năm trước? Có thể […]

Nam mô A Di Đà Phật!

Kính bạch Thầy,

Con tự hỏi, có thể có ai trong chúng con hôm nay đã từng là tứ chúng tham gia, cuộc tiễn đưa vĩ đại, Lễ rước xá-lợi của Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên nhập bảo tháp từ gần ba ngàn năm trước? Có thể một người, hai người, ba người hoặc tất cả cùng được tham gia buổi lễ trang nghiêm và trọng thể đó. Rất có thể như vậy vì tất cả hội tụ, hiện hữu đều là do phước báo và nhân duyên thù thắng từ nhiều đời nhiều kiếp. Và hôm nay, chúng con cùng nhau ngồi lại, lắng lòng, nghe Thầy giảng về những phẩm hạnh cao tột để ôn về cuộc đời hành đạo và những đóng góp to lớn của các Ngài đối với Đạo pháp trong những năm đầu nhập thế. Dù cho hai ngôi sao xuất chúng bên cạnh Đức Thế Tôn đã tắt từ mấy ngàn năm nhưng vẫn luôn sáng rỡ trong lòng biết bao người con Phật ngày hôm nay.

Trước khi tiễn Tôn giả Xá-lợi-phất vào nhập bảo tháp, Đức Thế Tôn đã tán thán Ngài: là một Tỳ-kheo xứng đáng được tứ chúng tôn trọng và ngưỡng mộ. Trí tuệ của Ông không ai bì kịp. Trí tuệ ấy sáng suốt, quảng bác, rực rỡ như hàng triệu ngôi sao tụ lại. Ông ấy là một người sống đời biết đủ, ít ham muốn, điềm đạm không dính bụi trần, ưa tĩnh cư, ưa tạo sự hòa hợp giữa tăng chúng, không mệt mỏi trong Phật sự, không chán nản trong việc giáo huấn môn đồ, là người bạn khả kính, khả ái của mọi người. Là một thiện tri thức vĩ đại… Ông ấy kiên định như đá tảng, khiêm nhu như lụa mềm, kham nhẫn giống đại địa, tĩnh lặng tựa bể sâu. Sống với bạn bè, người thân, môn đệ, Ông như con chúa đàn với đôi sừng bằng sắt sẵn sàng bảo vệ và ngăn chặn kẻ ác, điều ác. Ông ấy còn tự ví mình như một người Chiênà-la thấp kém nhất trong xã hội, thế nhưng lại là một người cao cả nhất trên đời này.

Bấy nhiêu lời của Đức Thế Tôn đã đủ khái quát cuộc đời hành đạo, trí tuệ, năng lực và phẩm hạnh của một tỳ-kheo xuất sắc, xứng danh là Đại đệ tử số một của Đức Phật. Di cốt của Ngài sáng trắng như những viên ngọc trai không tỳ vết, đó chính là minh chứng về những phẩm hạnh cao đẹp của Ngài. Những năng lực phẩm hạnh ấy là kết quả của quá trình nỗ lực tu tập không ngừng nghỉ của Ngài từ nhiều đời quá khứ.  

Ai cũng hiểu mọi pháp hữu vi đều sinh diệt thành hoại, sinh tử là định luật tự nhiên của con người, có sinh thì có diệt, có tụ thì có tán, nhưng trước sự ra đi của Tôn giả Xá-lợi-phất, toàn thể Tăng đoàn đều cảm thấy sự thiếu vắng, sự mất mát to lớn, sự xúc động khó kiểm soát và lòng thương nhớ vô hạn, bởi vì Ngài là một kho tàng Pháp bảo, một người Cha, một người Mẹ, một người Anh cả trong Giáo hội và Tăng đoàn. Với Đức Thế Tôn, Ngài luôn là cánh tay phải, một một học trò xuất sắc nhất về trí tuệ và năng lực, một người con trai trưởng đầy trách nhiệm, bản lĩnh, đức hạnh, là người bạn lớn luôn thấu hiểu, gần gũi và tin cậy tuyệt đối. Sự ra đi của Tôn giả Xá-lợi-phất để lại trong lòng Đức Thế Tôn sự trống trải thật khó bù đắp.

Sự “trống rỗng”, mất mát càng lớn hơn khi Đức Thế Tôn cùng Tăng đoàn đón nhận Di cốt của Tôn giả Mục-kiền-liên, Đại đệ tử được ví là cánh tay trái, là học trò yêu quý thứ hai của Đức Thế Tôn. Lại một lần nữa Đức Thế Tôn tán thán công đức của hai Tôn giả, hai Đại đệ tử luôn được tứ chúng kính yêu, nể phục bởi trí tuệ, công hạnh cùng phước báu Ba-la-mật; luôn hoàn thiện về mọi phương diện, là hai nhân cách siêu việt khó tìm thấy, trong niềm xúc động và thương nhớ vô bờ.  Cuộc đời hành đạo của hai Ngài từ khi được gặp Đức Thế Tôn, được khai thị về chân lý cao tột, hai Ngài luôn kề vai, cống hiến và phụng sự trọn đời cho sự phát triển Giáo hội và Tăng đoàn, luôn là những người gương mẫu nhất trong thực hiện pháp học và pháp hành theo đúng chánh pháp từ Đức Thế Tôn truyền dạy.  

Do nhân duyên từ nhiều đời, các Ngài gặp nhau là sự tương ngộ tuyệt vời của hai Bậc hiền trí: Cùng xuất thân từ dòng tộc Bà-la-môn danh tiếng, sinh cùng thời, xuất chúng từ thời thơ ấu, cùng tham gia Đại hội Bà-la-môn, cùng một thầy dẫn đạo, cùng chí hướng muốn tìm cầu chân lý, cùng hạnh phúc tột bậc khi được gặp được giáo pháp của Đức Thế Tôn, cùng quy y Tam bảo, cùng chứng quả thánh tứ tư, quá khứ cùng phát nguyện lại Đại đệ tử của Đức Phật, cùng lãnh đạo Tăng đoàn, cùng có tâm đại hiếu, cùng xin phép bái biệt Đức Thế Tôn để được nhập diệt trước Ngài… Các Ngài là đôi bạn tri kỷ, cả cuộc đời từ thơ ấu đến khi nhập diệt luôn sát cánh bên nhau, sáng ngời tình huynh đệ bền chặt, hiểu biết, thương yêu, trách nhiệm đến tận cùng trước mọi công việc được Đức Thế Tôn giao phó và những công việc liên quan đến trường tồn của Đạo Pháp. Chỉ một ánh mắt, một cử chỉ, một câu hỏi ngắn gọn nhưng trọn nghĩa đã tạo ra những tương tác tuyệt vời của hai Ngài trong việc chỉ giáo đưa những đồng Đạo ưa thích hý luận về đúng với giáo lý của Đức Thế Tôn. Luôn tương kính, tự hòa và hoan hỷ với nhau và với mọi người, cả hai Ngài đều tự hào, trân quý nhân duyên tốt đẹp ấy. Cuộc chia tay của hai Ngài trước khi Tôn giả Xá-lợi-phất về cố hương thấm đẫm tình huynh đệ, tình pháp lữ cao cả, trân trọng và thành kính.

Cũng do nhân duyên từ nhiều kiếp, các Ngài được gặp Đức Thế Tôn, được hòa hợp vào Tăng đoàn cùng đi trên con đường giác ngộ, giải thoát và trở thành những Đại Đệ tử tin cậy của Đức Thế Tôn, những Sư huynh mẫu mực, uy tín của Tăng đoàn. Những nhân duyên thù thắng ấy đã mang lại quả vị giải thoát đích thực cho các Ngài trong kiếp cuối cùng, thoát ly sinh tử. Những khen ngợi, tán thán từ Đức Thế Tôn về công hạnh của hai Ngài trong Lễ nhập bảo tháp là những ghi nhận chân thực nhất, sinh động nhất đối với những phẩm hạnh cao đẹp, sự cống hiến không mệt mỏi nhằm trường tồn và rạng danh Đạo Pháp của các Ngài. Các Ngài mãi luôn xứng danh là Đại đệ tử xuất chúng của Đức Thế Tôn, là tấm gương sáng ngời soi rọi cho hậu thế muôn đời noi theo, học tập.

Chúng ta học tập các Ngài về sự khát khao tìm cầu chân lý, sự nỗ lực không ngừng nghỉ trong pháp học và pháp hành, sự tận tụy, trách nhiệm đến cùng trước mọi việc cho dù bất kể là việc gì. Chúng ta học tập các Ngài về hạnh hiếu đối với cha mẹ, hạnh tri ân đối với của Đức Bổn sư để thực hiện tốt bổn phận của người con Phật ở mọi nơi, mọi lúc. Chúng ta học tập các Ngài về hạnh kham nhẫn về đức hy sinh để tạo nên sự hòa hợp thực sự trong môi trường sống, học tập, làm việc và tu tập. Chúng ta học tập các Ngài về tình bạn cao cả, thiêng liêng để thực hành, rèn luyện, xây dựng cho mình những thiện hữu tri thức, sách tấn nhau trên con đường học Phật, cùng nhau thực hành những việc có lợi ích, biết phục vụ và biết hy sinh.

Và nữa, là những người có phước báo to lớn, nhân duyên tốt đẹp từ nhiều đời, chúng ta cần trân quý những mối quan hệ thiêng liêng đang hiện hữu để nỗ lực thực hiện đúng pháp, hợp thời mọi Phật sự, cùng nhau tiếp tục gieo những hạnh lành để tạo ra những quả lớn ngày mai, đó cũng là cách bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng với Đức Thế Tôn và các Đại đệ tử của Ngài.

 

Phật tử Anh Trung

Cẩn ghi