Có những mùa đông đi qua để lại hơi lạnh trong từng thớ đất, nhưng có những mùa đông để lại cái lạnh thấu xương trong tận cùng tâm khảm. Suốt bốn mươi năm qua, tôi sợ mùa đông. Không phải vì thời tiết buốt giá của nhân gian, mà vì cái cảm giác mất mát, li biệt cứ chực chờ trỗi dậy mỗi khi cơn gió heo may tràn về.

MÙA ĐÔNG NĂM 1986, VỆT MÁU LY TAN VÀ NỤ CƯỜI VỤT TẮT

Vạn Thiện, ngày 25 tháng 4 năm 2026

Phần 1

Anh Hai của tôi!

Tình thương Anh dành cho Má và chín đứa em chúng tôi chưa bao giờ có sự nặng nhẹ, hơn kém. Nó cứ mênh mông và đong đầy như thế, bao phủ lấy cả tuổi thơ tôi. Tôi vẫn nhớ như in dáng vẻ Anh tỉ mẩn đi hỏi từng người, từ Má đến các em, xem ai thích bài hát nào để Anh kỳ công tuyển chọn.

Vào những năm 1976 – 1978, khi đất nước vừa bước qua cuộc chiến, giữa muôn vàn khó khăn và sự khắt khe của thời cuộc đối với dòng nhạc vàng, Anh đã bằng mọi cách để sưu tập cho bằng được những bản nhạc người thân yêu thích. Cứ thế, những dĩa nhựa Nhạc tuyển 1, Nhạc tuyển 2 ra đời – đó không chỉ là âm nhạc, mà là tâm huyết, là chắt chiu và là cách Anh vỗ về tâm hồn của cả gia đình trong buổi giao thời.

Ký ức trong tôi vẫn còn vẹn nguyên sở thích của từng người: Má thì say mê tiếng hát Khánh Ly qua bản Đại bác ru đêm của Trịnh Công Sơn; Anh lại tâm đắc với Xin anh giữ trọn tình quê qua giọng ca Duy Khánh; chị Ba mơ màng với Nối lại tình xưa; anh Tư yêu tiếng hát Hoàng Oanh trong Tám điệp khúc; chị Năm, chị Sáu, chị Bảy mỗi người một nỗi niềm riêng gửi gắm vào Tình chỉ đẹp, Lòng mẹ, Lan và Điệp

Nhớ làm sao những buổi trưa miền Tây nắng ấm. Sau bữa cơm, khi những chiếu bánh phồng ngoài sân đã bắt đầu gần đủ nắng, cả nhà tôi lại chìm vào giấc ngủ thiu thỉu. Má nằm trên võng đưa kẽo kẹt, anh chị em tôi nằm quây quần dưới sàn ván, giữa tiếng máy hát Akai rè rè phát ra từ cái dĩa nhựa to gần bằng cái mâm để trên bàn.

Bức ảnh gia đình tôi chụp năm 1967 tại Long Mỹ.
Từ trái sang phải, hàng đứng: anh Hai, anh Tư, chị Năm, chị Sáu, chị Ba, và Má;
hàng ngồi: chị Bảy, anh Tám và anh Chín.
9 người thân của tôi đã lần lượt ra đi hết 6, giờ chỉ còn 3…

Xóm nhỏ Chợ Nhà Thờ trên con đường Thủ Khoa Huân (nối dài) ngày ấy vui làm sao, đầm ấm biết bao nhiêu! Những địa danh thân thương như Bến Đá, Đất Thánh, xóm Hồi Hương, Nhà Giảng… như những vòng tay mẹ hiền, ôm ấp lấy tổ ấm nhỏ của gia đình chúng tôi. Nơi đó, tiếng nhạc vàng dìu dặt hòa cùng tình anh em gắn bó, đã dệt nên một bầu trời bình yên đến lạ lùng giữa những ngày đời còn gian khó.

Anh Hai của tôi là một thợ may có tiếng, tiệm của Anh lúc nào cũng đông khách ra vào. Không chỉ lo toan công việc riêng, Anh còn dốc sức phụ giúp gia đình làm bánh phồng, cái nghề đòi hỏi sức vóc và sự bền bỉ. Thế nhưng, sự lao nhọc quá sức đã quật ngã thân hình gầy gò ấy. Anh mắc bệnh lao phổi, một căn bệnh mà ở thời điểm đó được coi là nỗi kinh hoàng của xã hội. Không thuốc chữa trị dứt điểm, lại thêm sự kỳ thị, xa lánh vì nỗi sợ lây nhiễm, Anh phải đối diện với một áp lực tâm lý đè nặng.

Dẫu mang trong lòng nỗi mặc cảm của một người mang trọng bệnh, nhưng nghị lực của Anh lại phi thường đến mức không ai có thể hình dung nổi. Anh không cho phép mình gục ngã, vì sau lưng Anh là vợ dại, con thơ và cả một gia đình đang trông cậy. Anh cứ lẳng lặng làm việc, lẳng lặng lo toan, giống như một ngọn nến tự đốt cháy chính mình, cháy đến khi không còn gì để cháy nữa mới thôi. Sự hy sinh của Anh không ồn ào, nó thấm đẫm trong từng đường kim mũi chỉ, trong từng mẻ bánh phồng đẫm mồ hôi, và trong cả sự chịu đựng âm thầm trước những cơn đau thắt lồng ngực.

Có những mùa đông đi qua để lại hơi lạnh trong từng thớ đất, nhưng có những mùa đông để lại cái lạnh thấu xương trong tận cùng tâm khảm. Suốt bốn mươi năm qua, tôi sợ mùa đông. Không phải vì thời tiết buốt giá của nhân gian, mà vì cái cảm giác mất mát, li biệt cứ chực chờ trỗi dậy mỗi khi cơn gió heo may tràn về.

Mùa đông năm 1986, căn nhà nhỏ của gia đình tôi vẫn thường êm đềm với tiếng cười hóm hỉnh của anh Hai. Tính tình anh vui vẻ, nên dù đã có gia đình ở nhà riêng, mỗi tối anh vẫn ghé qua nhà để uống chén nước rau muống vắt với nước dừa tươi do chính tay chị Sáu giã để trị căn bệnh lao phổi. Cả nhà xúm xít, chuyện đông tây kim cổ rôm rả dưới ánh đèn vàng dây tóc leo lét của thời đó.

Nhưng, sinh tử vốn không hẹn trước. Giữa lúc nụ cười chưa kịp tắt, một tràng ho rũ rượi đã khiến anh co gập người. Máu, những vệt máu đỏ tươi phun ra không ngừng từ miệng anh, nhuộm đỏ cả ván sàn nhà, nhuộm đỏ cả ký ức tuổi thơ tôi. Trong cơn hỗn loạn, tiếng khóc la của mấy Chị xé toang màn đêm đang trùm xuống khu xóm nhỏ gần Nhà đèn, tôi phóng xe đạp như bay theo chiếc xe lôi chở thân hình gầy gò, bất động của anh trong tay anh Tám.

Giây phút đứng trước phòng cấp cứu, nhìn vị bác sĩ vạch mắt xem đồng tử rồi buông một câu lạnh lùng: “Chết trên đường rồi, đưa về lo hậu sự đi”, tôi cảm thấy đất trời sụp đổ. Đó là lần đầu tiên tôi chạm tay vào thực tại tàn khốc của tử biệt.

Tôi lặng người. Lần đầu tiên trong đời, tôi chạm vào thực tại của cái chết, chứng kiến anh mình lìa đời ngay trước mắt. Anh Tám bảo tôi: “Chinh, mầy về nhà báo cho mấy chị biết liền đi”. Tôi đạp xe về mà lòng trống rỗng, không khóc nổi, chỉ có một nỗi đau thắt lại nơi lồng ngực.

Giá mà ngày đó, tôi được nghe Thiền sư Vạn Hạnh dạy “Thân như bóng chớp chiều tà. Cỏ cây xuân tốt, thu qua rụng rời…” thì đã thấu hiểu chân lý bất di bất dịch: Hóa ra, mạng người chỉ trong một hơi thở. Khi hơi thở không còn, tất cả chỉ là hư ảo.

(còn tiếp)

Thích Thiện Thuận