Do ảnh hưởng dịch bệnh, năm nay Tổ đình Long Khánh tổ chức cúng giỗ Tổ sư Huệ Pháp-Hồng Phó, khai sơn Tổ đình Long Khánh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang nội bộ. Sư phụ Trụ trì Viện Chuyên Tu không tổ chức đoàn cùng Phật tử hành hương về chốn Tổ như kế […]

Do ảnh hưởng dịch bệnh, năm nay Tổ đình Long Khánh tổ chức cúng giỗ Tổ sư Huệ Pháp-Hồng Phó, khai sơn Tổ đình Long Khánh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang nội bộ. Sư phụ Trụ trì Viện Chuyên Tu không tổ chức đoàn cùng Phật tử hành hương về chốn Tổ như kế hoạch dự định.

Sáng ngày 26/4/2022 (26/3 âm lịch), TT. Thích Thiện Thuận đã tổ chức Lễ cúng giỗ 72 năm viên tịch của Tổ sư tại chùa Vạn Thiện, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Quang lâm tham dự có TT. Thích Hạnh Bảo, UV. Ban Chấp hành Hội đồng Tăng già Thế giới, trụ trì Tu viện Liên Tâm Phần Lan và đông đảo chúng đệ tử môn hạ Viện Chuyên Tu tham dự.

 

 

Sau thời tụng kinh và cúng Phật, đại chúng vân tập nơi Tổ đường tưởng niệm ân đức và công đức của Tổ sư. ĐĐ. Thích Thiện Triều cung tuyên tiểu sử Tổ sư, đại chúng cảm phục tài đức một bậc danh Tăng của Việt Nam với đức độ và công hạnh đã làm cho vua Campuchia và Lào quy ngưỡng kính phục, điều đó góp phần gieo giống bồ-đề khắp ba nước Đông Dương để Phật giáo được hoằng dương rộng rãi.

 

 

Theo bộ Tiểu sử danh tang Việt Nam thế kỷ xx – tập 1 do HT. Thích Đồng Bổn chủ biên, Hòa thượng Thích Huệ Pháp thế danh Võ Văn Phó, húy Hồng Phó, thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 40. Ngài sinh năm Tân Mão (1891), tại xã Khánh Hòa, tổng An Lương, huyện Châu Phú, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc tỉnh An Giang) trong một gia đình trung nông, nho phong lễ giáo. Thân phụ là ông Võ Văn Huỳnh và thân mẫu là bà Nguyễn Thị Đồng.

Thuở thiếu thời, Ngài đã có những biểu hiện khác thường so với các bạn cùng lứa tuổi. Đặc biệt, khi đã biết ăn, Ngài hoàn toàn không đụng đến thịt cá, và như vậy, đặc điểm này Ngài đã giữ cho đến hết cuộc đời. Thú vui giải trí của Ngài lúc này chỉ là niềm mơ tưởng về Phật pháp, được gởi gắm trong những tượng Phật bằng đất do tự tay Ngài nắn tạo.

Do đó, năm Giáp Thìn (1904), khi lên 13 tuổi, Ngài quyết chí trốn nhà ra đi. Để noi gương Thái tử Tất Đạt Đa, Ngài đã tự cạo tóc xuất gia tu hành và tầm sư học đạo, tạm thời ở vùng lân cận. Một hôm, may gặp người thân chèo ghe đi buôn trên Nam Vang, Ngài liền quá giang sang Cao Miên. Ở xứ này một thời gian, học đạo chưa thỏa mãn nên Ngài lại vượt qua Ai Lao, rồi thẳng sang Thái Lan.

Năm Mậu Ngọ (1918), sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài tạm giao chức Thủ tọa chùa Định Long cho thầy Thiện Ngọc, để về xã Khánh Hòa tìm nơi xây cất chùa theo di huấn của Bổn sư. Các nhà hảo tâm ở địa phương hết lòng hỗ trợ công cuộc xây cất này. Mãi đến năm Ất Sửu (1925), chùa mới thực sự hoàn thành và được đặt tên là chùa Long Khánh. Ngày khánh thành cũng là ngày mở Đại giới đàn tại đây, và Ngài được cử làm Đường đầu Hòa thượng truyền giới cho Tăng Ni, Phật tử đến thọ pháp. Sau đó Ngài cho mở các khóa học Phật pháp thường kỳ và đã đào tạo được rất nhiều vị tinh chuyên Phật học tại đây.

Năm Bính Tuất (1946), sau thời gian nhuốm bệnh, Ngài đã thâu thần viên tịch vào lúc 15 giờ 20 phút chiều ngày 26 tháng 3 âm lịch, trụ thế 56 năm, 42 tuổi đạo. Bảo tháp xá lợi của Ngài được tôn trí ngay trong khuôn viên chùa Long Khánh, xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.