CÂU HỎI: A Di Đà Phật, kính bạch thầy, tên con là Quốc Việt, pháp danh của con là Huệ Thông, trước là con xin thỉnh an thầy và con chúc thầy thật nhiều sức khỏe. Bạch thầy, con có một thắc mắc xin thầy hoan hỷ giải đáp cho con: Con hành pháp môn […]
CÂU HỎI:
A Di Đà Phật, kính bạch thầy, tên con là Quốc Việt, pháp danh của con là Huệ Thông, trước là con xin thỉnh an thầy và con chúc thầy thật nhiều sức khỏe. Bạch thầy, con có một thắc mắc xin thầy hoan hỷ giải đáp cho con:
Con hành pháp môn tịnh độ, ngày ngày niệm phật, thưa thầy con được nghe nhiều về pháp mộn tịnh độ nhưng vẫn còn nhiều điểm con chưa được tường tận. Có những bài giảng là khi niệm phật thì nên niệm phật và tưởng phật, nhưng con lại nghe có bài giảng về Bồ Tát Đại Thế Chí nói khi niệm phật nên thâu nhiếp sáu căn đễ niệm, vậy con phải làm thế nào, thưa thầy. Nếu con theo cách niệm phật tưởng phật, có phải chăng đang phạm vào vọng tưởng hay không, vì niệm phật rồi nghĩ phật, tâm nghĩ đến về với phật, nghe phật dạy, thấy phật xoa đầu, càng nghĩ càng sâu như vậy vọng tưởng làm động tâm không thưa thầy? thắc mắc con như vậy, mong thầy hoan hỷ giải đáp cho con, con xin thành kính cảm tạ, đãnh lễ thầy.
=================================================
TRẢ LỜI:
A DI ĐÀ PHẬT
Thầy chào con, Huệ Thông!
Pháp môn trì danh niệm Phật của Tịnh Độ tông lấy một câu Phật hiệu A Di Đà làm sự tu trì hàng ngày. Điều này xuất phát từ một trong 48 đại nguyện của Đức Phật A Di Đà: “Sau khi tôi thành Phật, nếu trong mười phương có chúng sanh nào niệm 'A-Di-Ðà Phật', danh hiệu của tôi, thì tôi nhất định sẽ tiếp dẫn người đó tới thế giới của tôi, và trong tương lai, vị ấy sẽ được thành Phật. Ở thế giới của tôi, ai ai cũng đều hóa sanh từ hoa sen, nên thân thể của họ hoàn toàn thanh tịnh vô nhiễm”. Chính vì thế, pháp môn Niệm Phật được xem là pháp môn phù hợp với căn cơ mọi người, nhất là trong thời mạt pháp và rất “dễ tu”.
Nhưng việc gì được coi là "dễ" thật ra lại càng khó. Do phải thích hợp với mọi hoàn cảnh, mọi tâm niệm, mọi căn cơ nên cũng có nhiều phương pháp niệm Phật khác nhau. Mỗi phương pháp có một tác dụng đặc biệt riêng, nếu không phát tâm dõng mãnh thì người tu niệm Phật rất dễ bị vọng động, loạn tâm. Như con là một ví dụ đấy. Ở đây, Thầy chỉ xoay quanh một số vấn đề con thắc mắc về phương pháp Niệm Phật tưởng Phật.
Cố đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ từng dạy về phương pháp này như sau: “Niệm quán tưởng: Một mặt xưng danh hiệu Phật, mặt khác quán tưởng thân Phật và Bồ tát trang nghiêm đang đứng trước mặt ta. Do tự kỷ ám thị tưởng tượng ra các cảnh như cảnh Phật đương đưa tay thoa đầu ta hoặc lấy áo phủ lên mình ta, hoặc như cảnh đức Quan Âm và đức Thế Chí đương đứng hầu hai bên đức Phật, còn Thánh chúng thì đương đoanh vây hai bên thân ta. Lại có thể quán tưởng cảnh đất vàng, hồ báu của thế giới Cực lạc với lâu đài tráng lệ, lưới báu bủa giăng, hoa nở chim kêu đương phát ra tiếng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng v.v…
Nếu quán tưởng này đã thành thục, thì tuy nhục thân đương ở cõi Ta bà mà thức thần đã dạo chơi trên Cực lạc. Hoặc nếu quán tưởng chưa chơn thuần thì nó vẫn có thể làm trợ duyên cho sự niệm Phật bằng cách giúp cho tịnh nghiệp dễ dàng thành tựu.
Phép tu quán tưởng này lâu ngày càng thuần thục càng tạo được một ấn tượng rõ ràng và sâu sắc trong tầm mắt của hành giả. Một ngày kia, khi báo thân suy tạ, trần duyên ở cõi đời này dù cám dỗ đến đâu, cũng khó lôi cuốn khiến phải liên lụy. Như vậy, thắng cảnh Cực lạc nhất thời đã hiển hiện ra trước mắt rồi.”
Như Thầy đã nói ở trên, tùy căn cơ, tùy tâm niệm mỗi người mà có những phương pháp Niệm Phật khác nhau. Chư tôn đức là người đi trước, chỉ dạy cho chúng ta những phương pháp mà tự thân các Ngài đã thực hành và chiêm nghiệm. Điều này hoàn toàn không có nghĩa là phương pháp này đúng, phương pháp kia không có hiệu quả. Chính vì thế, các Ngài luôn dặn dò tùy căn cơ, hoàn cảnh của mình, hành giả tu tập sẽ lựa chọn hành trì phương pháp niệm Phật thích hợp nhất. Và phương pháp niệm Phật thích hợp nhất chính là phương pháp nào giúp hành giả tiêu trừ mọi vọng niệm, móng khởi của khổ đau và sanh tử luân hồi.
Con cần phải quán triệt, tâm chính là con đường để chúng ta có thể thấy được các pháp tối thượng hay đúng hơn là sự thật của các pháp. Cho nên, nếu như con niệm Phật với tín tâm kiên cố thì con không có gì mà phải lo lắng: “Nếu con theo cách niệm phật tưởng phật, có phải chăng đang phạm vào vọng tưởng hay không, vì niệm phật rồi nghĩ phật, tâm nghĩ đến về với phật, nghe phật dạy, thấy phật xoa đầu, càng nghĩ càng sâu như vậy vọng tưởng làm động tâm”.
Khi ta Niệm Phật, tâm niệm khởi lên cái gì, chúng ta sẽ đến cảnh giới đó. Nếu tâm thức chúng ta khi niệm Phật là tạp niệm, là mong cầu thì chúng ta sẽ đến cảnh giới của tạp niệm, của mong cầu. Còn nếu tâm thức chúng ta khi niệm Phật là hoa, là Bồ-tát, là giác ngộ thì chắc chắn rằng chúng ta sẽ được dẫn đến cảnh giới của hoa, của Phật, cảnh giới những ý niệm chơn chánh của người học Phật. Tâm biết rõ mình đang Niệm Phật, ý đặt vào danh hiệu Phật. Oai lực của chánh niệm càng lớn càng giúp con lấn áp tâm tưởng vô minh. Vì niệm Phật, tưởng Phật không gì khác hơn là để hằng sống với tự tánh giác ngộ, loại trừ vọng niệm đảo điên. Nơi đó, con sẽ thấy bình yên. Và cảnh giới này hoàn toàn không khác gì với cảnh giới có được với phương pháp Niệm Phật mà Đại sư Ấn Quang từng dạy: “Phương pháp hay nhất của việc dụng công niệm Phật là điều nhiếp sáu căn, tịnh niệm nối nhau. Điều nhiếp cả sáu căn, là ngay lúc niệm Phật tâm chuyên chú vào Phật, là nhiếp ý căn, miệng phải niệm cho rõ ràng mạch lạc tức là nhiếp thiệt căn, tai phải nghe đựơc rõ ràng mạch lạc tức là nhiếp nhĩ căn. Ba căn này nhiếp vào danh hiệu Phật thì mắt quyết không thấy cảnh loạn khác là nhiếp nhãn căn, mũi cũng không ngửi những mùi loạn khác là nhiếp tỵ căn, thân phải cung kính là nhiếp thân căn. Sáu căn đã được nhiếp phục mà không tán loạn thì tâm không có vọng niệm. Chỉ có Phật là niệm mới là thanh tịnh niệm. Nếu thường luôn nhiếp cả sáu căn mà niệm, thì gọi là tịnh niệm nối nhau, nếu thường tịnh niệm nối nhau thì nhất tâm bất loạn, niệm Phật Tam-muội sẽ dần dần được.”
Do vậy, con hoàn toàn có thể yên tâm Niệm Phật và tưởng Phật bất cứ khi nào mà con có đủ duyên. Và khi Niệm Phật con nên hướng tâm “chơn thật niệm Phật”, đừng để tâm niệm rối ren, vì mục đích cuối cùng của pháp môn tu Niệm Phật chính là đạt “nhất tâm bất loạn”. Khi “tịnh niệm đã kiên cường liên tục không hở, lòng như rào sắt vách đồng, gió thổi cũng không lọt, ai muốn đập phá cũng không xuể, quyết không còn một trần niệm ô nhiễm nào có thể đột nhập, khiến cho tâm chao động được. Lúc ấy, phép niệm Phật tam-muội tự nhiên thành tựu, quả vãng sanh không cầu mà tự đến.” (trích Pháp môn Tịnh độ – Tỳ kheo Thích Trí Thủ)
Chúc con tinh tấn trong tu tập.
Thầy
Thích Thiện Thuận