Phần 2: Hà Tiên, đóa “Phù dung” còn thoảng hương
Phần 2: Hà Tiên, đóa “Phù dung” còn thoảng hương
Ngày thứ hai (16/08/2016)
Sáng sớm, thầy trò chúng tôi cùng vân tập về Phật điện trang nghiêm, thành tâm quỳ thẳng đảnh lễ Tam Bảo. Chúng tôi được nghe những lời chia sẻ của Sư phụ, vừa giới thiệu vừa như kể chuyện về ngôi chùa Phật Đà, về Thượng tọa trụ trì Thích Huệ Tâm với chặng đường dài ngót một phần tư thế kỷ qua… Chúng tôi được biết, sự đóng góp công sức và trí tuệ của Thượng tọa nên nơi đây mới trở thành chốn tu tập trang nghiêm vùng biên địa. 25 năm, là khoảng thời gian đủ để chúng tôi ngưỡng mộ và kính ngưỡng, về sự cố gắng và hy sinh âm thầm của Thầy trụ trì; làm sao dễ dàng cho được, khi người dân nơi xa xôi này còn quá xa lạ và hững hờ với đạo pháp, với giáo lý sâu mầu của Đạo Phật… Ấy vậy mà, nắng sớm mưa chiều, từ khi chỉ là một mái am bé nhỏ, tiếng chuông thanh tĩnh vẫn đều đặn vang lên; nếp sống thanh bần vẫn từng ngày từng giờ cống hiến tuổi thanh xuân và hoài bão cho đạo cả… 25 năm, một hành trình dài mà bất cứ ai đó ngoài kia, còn đang bon chen chật vật với công danh, lợi lộc, thì ở chốn âm thầm này, mái chùa trang nghiêm dần dần được dựng lên ngày một trang nghiêm….

Trong không khí thắm tình, Thượng tọa Trụ trì cũng đã dặn dò chúng tôi một cách thân thiết và chân tình, rằng con đường học đạo và tu đạo tuy thật nhiều khó khăn vất vả, nhưng nếu cố gắng bằng tất cả tâm thành của mình, thì ắt hẳn cũng sẽ có ngày thành công. Chúng tôi, lại thêm một lần, được chứng kiến và lắng nghe tâm tình huynh đệ trong thiền môn giữa Sư phụ và Thầy trụ trì dành cho nhau, nhờ đó mà chúng tôi được lắng nghe những lời chia sẻ, động viên và tâm sự từ gan ruột của bậc thầy dành cho các chú đệ tử và hàng Phật tử. Thầy trụ trì chỉ day: “các con làm đệ tử phải biết quý trọng hai chữ ‘nhân duyên’, nhân duyên được làm thân người, được gặp Phật Pháp và nhân duyên thù thắng hơn nữa là được làm đệ tử của Sư phụ các con… không biết sau này có còn nhân duyên ở bên chánh thầy mình nữa không, các con hãy tinh tấn tu học và chớ cãi lời Sư phụ mình mà chạy theo niềm vui thế gian sẽ không thành tựu đạo nghiệp, phụ lòng thầy mình thì tội lắm nghe con…”. Những lời tâm tình, sẻ chia mới chân thành và gần gũi làm sao. Chúng tôi tự nhủ với lòng mình rằng sẽ tinh tấn hơn nữa trên con đường học Phật, để không phụ đi thâm ân sâu dày mà Sư phụ đã dành cho chúng đệ tử xuất gia và tại gia chúng tôi.

Đứng lặng nghẹ lời tâm tình, giáo hóa của hai Thầy, chúng tôi thầm nghĩ: “chẳng biết đến khi nào chúng tôi mới có dịp được trở lại vùng đất Hà Tiên xa xôi để thăm lại chùa Phật Đà cổ nghiêm tịnh này!” Nhưng theo lời Sư Phụ, thì dù có ở bất cứ lúc nào, đi bất cứ nơi đâu, chúng tôi vẫn sẽ luôn gặp nhau trong ánh hào quang từ bi, hỷ xả và hạnh nguyện bao la của chư Phật. Có những thứ theo thời gian sẽ dần chìm vào trong quên lãng, nhưng cũng có những thứ sẽ còn mãi với năm tháng, đó là tình đạo, tình người… Nơi đây, những vị sứ giả Như Lai vẫn lặng thầm từng ngày, từng giờ cống hiến cho đạo pháp, đó sẽ là những đóa sen thơm ngát ban tặng cho cuộc đời.

Sau khi dảnh lễ Tam Bảo và nghe những lời tâm tình hết sức chân thành và gần gũi, theo lời hướng dẫn của chư tăng tại đây, chúng tôi tới viếng thăm Phù Dung cổ tự. Ngôi chùa có bề dày lịch sử được xây dựng vào cuối thế kỷ thứ XVIII do Đô đốc Mạc Thiên Tích (1706-1780) dựng cho nàng thứ cơ tên Phù Cừ (1720-1761) làm nơi tu hành. Tương truyền, thứ cơ Phù Cừ tên thật là Nguyễn Thị Xuân, thứ nữ của di thần nhà Lê tên Nguyễn Đình Tú. Về sau, ông cùng hai con vào cư ngụ tại Hà Tiên. Con trai tên Nguyễn Đính, giỏi kiếm thuật, ra giúp họ Mạc; còn em gái, giỏi thơ văn, gá nghĩa cùng Mạc Thiên Tứ, sau cuộc gặp gỡ tại tao đàn Chiêu Anh Các. Được sự chấp thuận của phụ thân, cuộc hôn nhân tiến hành, lễ tân hôn tổ chức tại một tòa lâu đài nguy nga tráng lệ mang tên Điệp Thúy Lầu dưới chân dãy Bình San Điệp Thúy, mặt tiền hướng về Đông Hồ Ấn Nguyệt, trước lâu đài có một Tịnh Thủy Hồ với tên gọi Bửu Nguyệt Liên Trì, trồng toàn sen trắng, trên mặt hồ xây dựng một tòa Thủy tạ có tên là Hương Viễn Kiều nằm uốn mình vắt ngang nối ngay giữa hai tòa lầu tô điểm thêm phần trang nhã cho đài Điệp Thúy Lầu. Thế là từ đây Thị Xuân đã kết tóc se duyên cùng vị Tổng trấn Hà Tiên, nàng được yêu quý với tên thường gọi Ái Cơ. Cuộc tình của nàng được dệt toàn bằng Thơ vịnh, Thi phú, êm đềm như một điệp khúc tình ca diễm tuyệt.
Đời dâu bể nhiều tăng thương biến đổi, Tao đàn Chiêu Anh Các – nơi đánh dấu cuộc hội ngộ trai tài gái sắc trong Hội Hoa đăng tại Đông Hồ Ấn Nguyệt ngày xưa, giờ đổi thành Phù Dung tự – nơi ẩn dật tu hành của Ái Cơ với kiếp hồng nhan phận bạc. Thi sĩ Đông Hồ kể: Cảnh am tự này, ngôi mộ cổ này, ao sen này có một sự tích khá lâm ly… Truyền rằng: Mạc Lịnh Công có một bà thứ cơ tên là bà Dì Tự. Thứ cơ sắc đẹp lắm và hay chữ lắm. Mạc Lịnh Công, vì mê sắc đẹp, yêu tài thơ, đã từ chỗ sủng ái mà ra thiên ái. Hóa cho nên, khiến bà chính thất Nguyễn phu nhân ghen giận, lập mưu hãm hại bà thứ cơ. Một hôm, nhân Mạc Lịnh Công đi duyệt binh vắng, ở nhà, Nguyễn phu nhân đem nhốt thứ cơ vào lòng một cái chậu úp, cho ngột mà chết. Nhưng thừa ưa, vừa lúc đó, trời bỗng đổ trận mưa to. Mạc Công cũng vừa về đến, thấy trời đang mưa, mà lạ, sao chậu to không ngửa lên hứng nước mà lại để úp. Công bèn truyền lịnh giở chậu ra, thì nàng ái cơ đang thi thóp sắp đứt hơi, nhưng may mắn thay, hãy còn cứu kịp. Nàng thứ cơ thoát chết, trở nên chán chường sự thế, xin Mạc Công cho nàng đi tu. Trước sự tình éo le đó, Mạc Công không biết làm sao khác, cũng đành chiều ý, cất một ngôi am tự cho thứ cơ tu hành. Bên am tự, cho đào ao, trồng hoa sen trắng, để kỷ niệm mối tình xưa. Cho đến khi thứ cơ mất, Công cho xây ngôi mộ kiên cố đẹp đẽ để tỏ lòng tưởng nhớ yêu thương người giai nhân đã vì Công mà oan khổ…
Năm tháng dần trôi, sau bao nhiêu năm nơi chốn Thiền môn kinh kệ, tham thiền nhập định, tỏ ngộ chân tâm Phật tánh, quán nhân duyên Ta-bà quả mãn, Bà cáo biệt mọi người và an nhiên thị tịch ngày 15-02 xuân Tân Tỵ (1764), hưởng dương 41 tuổi. Nhục thân của Bà được an táng dưới chân Bình San Điệp Thúy, bên tả Phù Dung cổ tự ngày nay. Trên bia mộ Ba có mấy dòng chữ Hán:
Hoàng Việt
Hiển tỷ Từ Thành Thục nhân Mạc phủ Nguyễn thị chi mộ.
Dòng chữ bên trái bia:
Nam Chú lập thạch.
Dòng chữ bên phải bia:
Long phi Tân Tỵ trọng xuân kiết đán.
Bên cạnh mộ, có một tấm bia đá khắc mấy dòng chữ Việt do người đời sau tạo dựng, ghi: Lăng bà Phù Dung – Từ Thành Thục Nhơn – Nguyễn Thị Xuân (1720 – 1761) – Viên tịch rằm tháng 2 Âl – Hiệu Phù Cừ.
Từ đó, du khách mỗi khi du khách đến viêng thăm Phù Dung cổ tự, thường ngâm nga:
Ngó lên Am tự Phù Cừ
Thương cho người ngọc giã từ lầu son
Về đây nương chốn thiền môn
Tay lần chuỗi hạt cho mòn ngày xanh.
Duyên xưa chẳng bận chi tình
Bụi trần chi để vương cành hoa sen.
Nước trong chẳng lựa đánh phèn
Cửa thiền thanh tịch, não phiền sạch không.
Sau khi nghe Sư phụ và các thầy chùa Phật Đà thuật lại tiểu sử vị sư nữ Phù Cừ, chúng tôi ai nấy đều ngưỡng mộ và cảm phục Bà, một tuyệt sắc giai nhân, thông minh bén nhạy, tứ đức vẹn toàn, ở một địa vị mà bao người muốn có được, có trong tay tất cả mọi thứ, nào chức tước danh vọng, nào lầu son, đền đài… ấy vậy mà, Bà đã từ bỏ tất cả để xuất gia tu hành, khi chợt nhận ra lý vô thường sau biết bao những sóng gió, đổi thay của cuộc đời. Sư phụ nói với chúng tôi rằng: “Tuyệt sắc giai nhân, thông minh tài giỏi như Bà còn xuất gia quyết chí tu hành… mấy đứa con lo mà tu nha.”

Chia tay Phù Dung cổ tự, chúng tôi tiếp tục hành trình tới thăm chùa Hang, một danh thắng của Hà Tiên. Chùa Hang còn được gọi là Hải Sơn Tự được xây trong núi, nên trở thành một trong những ngôi chùa độc đáo nổi tiếng của miền đất Hà Tiên thập vịnh. Chính điện của nằm trong lòng núi với động đá vôi có rất nhiều thạch nhũ trông khá kỳ thú và có hai cửa chạy dài hơn 50m. Từ chính điện một đường hang thông ra biển rất hẹp có đoạn chỉ vừa cho vài người đi qua. Con đường hẹp này như một hành trình đầy thi vị với điểm cuối cùng đầy ánh sáng và gió biển thổi vào mát rượi. Đến cuối đường, trước mắt du khách là khoảng trời rực nắng, đi thêm vài chục mét nữa là đến biển bao la khoáng đạt và xa xa là Hòn Phụ Tử đứng đó lặng lẽ trầm ngâm ngàn đời.

Sách Đại Namnhất thống chí có đoạn: “Chùa Hang là một ngôi chùa nằm giữa hang sâu gần 40m, thâm u, mờ ảo. Các thạch nhũ khi ta sờ vào thì âm thanh ngân lên như tiếng chuông chùa, vì vậy có người gọi là đá chuông. Gọi là chùa Hang vì là ngôi thờ Phật trong hang, trông bên ngoài chỉ là một ngọn núi nhuốm màu hoang dã nhưng trong lòng núi là một động đá vôi thẳng theo trục Đông Bắc – Tây Nam, chiều dài hơn 50m, cửa động nhìn ra biển. Chùa Hang thực chất là núi đá vôi bị xâm thực có cách đây hơn 1000 năm. Thiên nhiên đã tạo nên một động thật độc đáo, động khá cao cỡ trần nhà nhưng do chiều dài nên trong động thiếu ánh sáng, ở giữa động tối như màn đêm. Chùa Hang, mảnh đất ấy từ bao đời nay đã thật sự gắn bó cùng lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.”
Sau khi tham quan, mọi người ra khỏi hang động tập trung phía trước sân chùa ngồi hóng gió, Sư phụ kêu một gánh váng đậu nước gừng (đậu hủ nước đường) đến, cả đoàn xúm xít rôm rả nói cười bên gánh hàng rong với đủ thứ chuyên trên trời dưới biển. Sư phụ hỏi một câu mà ai cũng nhao nhao giơ tay cho là mình: “đố các con, hôm nay ai vui nhất?” Sư phụ lắc đầu: “không phải, bà bán đậu hủ vui nhất!” Mọi người cười ầm, nhìn sang, thấy cô bán đậu hủ gánh chiếc gánh không nhẹ tênh rảo bước ra về mà miệng còn nở nụ cười.
Giã từ chùa Hang, Sư phụ hướng dẫn chúng tôi đến thăm chùa Giải Thoát, nơi mà Sư cô Thích nữ Huệ Định trụ trì cũng chính là em gái của sư Thượng tọa Thích Huệ Tâm. Ngôi chùa khang trang và rộn rã bởi tiếng nói cười của các chú tiểu Ni nhỏ, và đệm vào là tiếng bi bô ê a của những em bé nơi này. Sau khi được hướng dẫn đảnh lễ Tam bảo, Sư phụ thầy trò chuyện với Sư cô Trụ trì, chúng tôi càng khâm phục tấm lòng từ bi và sự hy sinh to lớn của các Sư nữ nơi đây: 21 em bé bị bỏ rơi ngay trước cổng chùa, được các cô chăm sóc và tận tình nuôi dạy. Em lớn nhất mới chỉ hơn 15 tuổi, em nhỏ nhất còn đi lẫm đẫm mới đang ê a tập nói. Sự nghiệp hoằng dương chánh pháp, vốn dĩ đã muôn phần khó khăn với các Sư nữ, thì ở nơi xa xôi này, các cô còn vất vả hơn gấp bội khi chăm sóc và nuôi dạy hơn 20 em nhỏ trong hoàn cảnh cửa thiền còn nhiều quan niệm khắt khe của thập phương bách tính. Thầy trò chúng tôi với thật nhiều quý trọng và cảm phục tâm nguyện và công đức các cô, dù chẳng thể lưu lại lâu hơn nơi chùa Giải Thoát này, nhưng chúng tôi vẫn tin sẽ có ngày trở lại để đến đây chia sẻ và thăm viếng các cô trong hạnh nguyện mênh mông của Bồ-tát đang chìa tay ra nâng bước đời đau khổ của chúng sinh.

Chia tay chùa Giải Thoát, chúng tôi quay trở lại ngôi chùa Phật Đà thân thiện, thu xếp hành lí và giã từ Thượng tọa trụ trì cùng Tăng chúng bổn tự. Thượng tọa trụ trì muốn giữ chúng tôi ở lại dùng trưa nhưng vì thời gian eo hẹp không giữ chân được chúng tôi ở lại nên đã dặn các thầy đệ tử chuẩn bị sẵn những phần cơm hộp để chúng tôi ăn trên đường. Nhận những phần cơm đầy nghĩa tình này, ai nấy cũng đều bùi ngùi, xúc động, không nỡ chia xa nơi ngôi chùa nhỏ bé nhưng đầy tình người tại đất Hà Tiên này…
Chia tay vùng đất Hà Tiên xinh đẹp, chiếc xe lăn bánh khi kim đồng hồ chỉ hơn 12 giờ. Một chặng đường dài, với điểm đến là vùng đất Mỹ Tho. Qua lời kể của Sư phụ, chúng tôi được biết, đó là vùng đất xanh tươi dừa nước, với những vườn trái cây kéo dài, hoa trái sum xuê, những dòng sông nối tiếp nhau và những kênh rạch đan xen như những mạng nhện…8 tiếng ngồi ô tô cho một hành trình từ Hà Tiên đến với Mỹ Tho. Sư phụ thầy trò chúng tôi dừng chân nơi khu nghỉ Bảo Đăng. Một quần thể nghỉ dưỡng tâm linh quy mô và thanh tĩnh. Chúng tôi đến Bảo Đăng khi sắc trời đã tối. Sư phụ thầy trò tuy đã thấm mệt sau hành trình dài, nhưng ai nấy cũng hân hoan khi được biết, sẽ có lễ thả hoa đăng tại đây trước khi bữa tối bắt đầu. 21h, Sư phụ thầy trò chúng tôi có mặt tại phật đường Bảo Đăng, Sư Phụ đã giúp chúng tôi hiểu hơn về ý nghĩa của nghi thức thả hoa đăng. Nghi thức này, cũng là một trong những cách giúp chúng tôi tri ân và tưởng nhớ những người thân đã mất; cũng là một trong những cách biết ơn và đền ơn cho những người thân đang hiện hữu… Không gian u nhã của Bảo Đăng bỗng trở nên trang nghiêm hơn bao giờ hết, khi tiếng tụng kinh trầm bổng vang lên và đoàn người lặng lẽ nối nhau theo từng bước chân của Sư Phụ. Từng ngọn đèn được thả, là bấy nhiêu tâm nguyện của tất cả Sư phụ thầy trò chúng tôi, về sự đáp đền tiếp nối của bao la tình đạo, tình người…. Lễ thả hoa đăng kết thúc, chúng tôi trở về dùng tối trong không gian ấm cúng của Phật đường Bảo Đăng, sau đó trở về những gian phòng nghỉ ngơi, và như thế, ngày thứ hai lặng lẽ khép lại…

(còn tiếp)
Bạch Mỹ
