Ký sự TÔI VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ Phần 3: “Cố nhân đi, bao giờ mới về?” Không chắc là tôi tư duy đúng, nhưng quả thật, tôi không thể nào ngược đãi quá khứ của mình. Tôi có chút gì đó tiếc nuối thời áo trắng khi lần đầu tiên được ngồi bên cạnh nhiều […]
Ký sự TÔI VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ
Phần 3: “Cố nhân đi, bao giờ mới về?”
Không chắc là tôi tư duy đúng, nhưng quả thật, tôi không thể nào ngược đãi quá khứ của mình. Tôi có chút gì đó tiếc nuối thời áo trắng khi lần đầu tiên được ngồi bên cạnh nhiều bạn bè, kể từ ngày rời xa mái trường Trung học Châu Đốc này vào mùa hoa phượng nở năm 1989 đến giờ.
Dù đã khép mình trong cửa thiền từ lâu, nhưng đôi lần tôi nhớ đến những người bạn này mà nghĩ ngợi nhiều chuyện bâng quơ về cuộc sống, việc làm, và ngay cả chuyện vợ chồng con cái của họ nữa. Tôi cũng không biết sao tôi lại muốn biết những chuyện không cần thiết đối với một tu sĩ Phật giáo nhìn đời qua lăng kính “sắc tức thị không” đầy triết lý ngay từ tuổi hoa đẹp nhất đời người? Giờ thì tôi đã hiểu, đơn giản, vì họ là bạn học của tôi từ thời niên thiếu; vì họ là người biết tôi và tôi cũng biết họ qua từng tiết học và ước mơ; vì họ là người cùng chuyện trò buồn vui với tôi những buổi tan trường trong mưa nắng hai mùa quê tôi. Và có lẽ, vì họ đã từng cùng tôi đạp xe từ khắp mọi xóm nhỏ quen thuộc, những ngả đường thân thương về trường mỗi ngày mà chỉ ở Châu Đốc quê tôi mới có: đường Xe lửa, đường Xe rác, đường Núi, đường Cầu tiêu máy, Cầu lò heo trong, Bến đá, Kinh đào, đầu đường Tiệm rượu, cầu sắt An Biên, Nhà giảng, Cư xá 20, ngã ba Nhà thờ… Để rồi, một ngày định mệnh kia, họ và tôi lại đôi ngả chia xa, mỗi người nhỏ nhoi trên chiếc xe đời của mình lao qua những ngả rẽ, đến nhiều vùng miền của kiếp nhân sinh vô định 30 năm qua chưa từng một lần hội ngộ.
“Có ai chốn ấy về đây,
Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được lành?”
(Lê Ngọc Hân – Ai tư vãn)
Năm học 1988, hàng đứng từ trái sang: Trương Văn Vị (thầy Thiện Thành),
Võ Liêu (thầy Thiện Thuận), Tạ Ngọc Mỹ, cô giáo Đỗ Binh,
Đỗ Thị Thanh Huyền, Lê Ngọc Loan.
Hàng ngồi từ trái sang: Võ Văn Lập, Huỳnh Phi Sơn, Nguyễn Văn Bùi,
Lê Thanh Phương.
Từ trái sang: Nguyễn Hoàng Tuấn, Võ Liêu, Trương Văn Vị,
Nguyễn Thị Thuý Diễm, Lê Ngọc Loan, Phạm Kim Ngọc, Lữ Huệ Liên.
Từ trái sang: Võ Văn Lập, Lê Thanh Phương, Võ Liêu, Nguyễn Hoàng Tuấn,
Nguyễn Linh Giang, Huỳnh Thế Phong, Trương Văn Vị

Hàng đứng từ trái sang: Nguyễn Công Bình, Lê Thanh Dũng, Lê Thanh Phương,
Trương Văn Vị, Lê Hồng Lĩnh, Nguyễn Văn Tín.
Hàng ngồi từ trái sang: Nguyễn Hoàng Tuấn, Nguyễn Linh Giang, Võ Văn Lập
Buổi gặp lại hôm nay, tấm áo nâu sòng nhà Phật đã đặt tôi vào trung tâm điểm thu hút mọi sự chú ý, trân trọng và thân thiện của nhà trường và bạn bè – những người thân quen của tôi ngày ấy. Nhưng sao trong tôi vẫn cứ trộn lẫn một cảm giác vừa gần gũi vừa như xa. Gần lắm, vì tôi ngồi ngay giữa các bạn với cự ly ngắn nhất; nhưng tôi vẫn thấy một chút gì đó lạ lẫm. Dĩ vãng đúng là những cái gì đó không thể níu lại, vẫn là bạn bè tôi ngày ấy, nhưng đâu rồi những đứa bạn trong sáng, vô tư, đôi khi lại tỏ vẻ ngây thơ cụ đến lì lợm chỉ để moi của bạn cái bánh lỗ tai heo giòn rụm trong lớp, giành từng miếng khoai lang chan nước cốt dừa trước cổng trường, giành nhau từng trái táo xanh mà hả hê chiến thắng! Người của dĩ vãng hôm nay đã nhuốm nhiều phong sương, trải bao tuế nguyệt của đời sống bủa vây với hệ lụy cơm áo gạo tiền, sự mệt mỏi hằn dấu vết không chỉ trên thân người mà còn trong giọng nói, cách nói chuyện đầy uể oải.
Nhìn các bạn chia nhau xâu chuỗi của tôi để đeo trên tay vài giây “lấy hơi” an tịnh, tôi thấy thương vô cùng! Xâu chuỗi gỗ trầm hương loại thường 18 hạt không quý về giá trị kim tiền, thậm chí chẳng là gì so với khối tài sản mà các bạn đang có, nhưng nó nghiễm nhiên trở thành linh vật đối với đời sống tinh thần hình như đã thấy hụt hơi của những người bạn tôi trong cuộc mưu sinh đầy bất trắc và biến động này.
Ngày đó, các bạn đều tỏ ra thương cho tôi còn trẻ quá mà chôn vùi tuổi xuân trong nếp sống cửa Không. Thiền môn có gì vui mà lại khép đời trong tứ bề vắng lạnh, chỉ có mái tranh và tượng đá? Tu hành thì được gì mà sao lại bỏ hết gia đình, bạn bè và tương lai? Tội nghiệp quá, sao lại có suy nghĩ yếm thế như vậy? Thậm chí, có bạn thương hại tôi, bàn tán nhau rằng tôi hiền quá, không biết có chịu đựng nổi không. Chẳng hiểu ở đâu còn tung tin tôi thất tình đi tu nữa, đám bạn trời ơi của tôi lý giải rằng “nó sống nội tâm ít nói, chắc là yêu con nhỏ nào mà nó đi lấy chồng rồi nên mới buồn đi tu đó”… Mô Phật!
Nghe tin như sét đánh ngang tai, Thu Vân cũng lặn lội tìm bằng được ngôi chùa Minh Đạo trong hẻm nhỏ của Sài Gòn mênh mông để “xác minh” thực hư chuyện tôi đi tu nữa. Con nhỏ Tâm Nhân cao như cây tre miễu kia còn manh động hơn, đòi vô chùa “lôi đầu” tôi về nhà… Nói chung, chỉ vì thương tôi, không ai đồng ý khi hay tin tôi đã xuất gia! Người trong cuộc là tôi, không trách bất cứ người bạn nào với những suy nghĩ “dễ thương” nhớ đời của ngày ấy. Đơn giản, vì tôi cũng không thể giải thích được cho mọi người hiểu lý do tôi đi tu. Khi đó tôi còn quá trẻ để giải thích bằng lời về duyên khởi, duyên sinh. Mọi sự vật và hiện tượng không bao giờ tự nhiên mà có nếu không có các duyên tạo nên mà thành.
Nhưng, đến bây giờ, ngày trở về hội ngộ, các bạn đã hiểu con đường tôi đi không phải là vô định, quyết định của tôi không phải là thiếu chín chắn. Ngày đi, tôi chỉ mang đôi bàn tay trắng; ngày trở về tôi vẫn trắng đôi bàn tay theo cái nhìn của con mắt trần gian. Nhưng, vì sao, những người bạn tôi tóc đã pha màu tơ khói, trong tay đã có được rất nhiều thứ sau khi rời xa ngôi trường này, giờ đây lại thì thầm mơ được như tôi: nhẹ nhàng, trắng đôi bàn tay? Cuộc sống quá thực dụng và mớ hỗn độn được mất bại thành, phải chăng đã làm cho chính những con người một đời đeo đuổi, bắt đầu cảm thấy quá mệt như cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn một ngày trong cuộc đời cảm nhận: “Mệt quá đôi chân này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi. Mệt quá thân ta này, nằm xuống với đất muôn đời. Kìa còn biết bao người dìu dắt tới quanh đây” (Ngẫu Nhiên).
Tôi chợt thương các bạn phải bôn ba với thời vận chịu nhiều đau thương giữa cái có, cái không, và cũng thương cho bản thân mình bao năm gác ngoài tai câu danh lợi mà đôi khi vẫn có phút nặng lòng: được – mất. Bất giác, tôi lẩm bẩm đọc lại Lời cảnh tỉnh của người xưa trong mỗi thời Kinh sớm của chùa mà nghe tái tê lòng:
“Mùi tục lụy đắng cay mấy nỗi,
Bả đỉnh chung nhiều nỗi nhọc lòng.
So tài đấu trí dại khôn,
Công danh, phú quí mộng hồn hoàng lương”.
Các bạn tôi giờ đây đang nâng niu xâu chuỗi của người bạn tu sĩ với những câu nói nghe sao chua xót:
– Mầy đeo lấy hên đi, của ông thầy đó!
– Đưa tao đeo chút coi!
– Sao mầy cầm hoài vậy?
Lê Loan, Xuân Mai đưa tay về phía tôi, nói như gợi ý:
– Thầy, cho con mượn tay thầy một chút.
Cả đám cười ầm lên. Chẳng hiểu sao, tôi chìa ngay tay ra mà không chút ngần ngại. Điều này chưa từng xảy ra, kể từ ngày tôi xuất gia.
– Trời ơi, bàn tay vẫn còn đẹp như xưa, không một nếp nhăn tụi bây ơi!
Tôi tự nhiên, hòa trong tiếng cười vui của mọi người:
– Không để ai nắm mới được vậy đó.
Lý Hùng kéo tay mấy đứa con gái đang lao nhao, lớn tiếng:
– Mấy bà đừng có phá thầy, để cho thầy yên thân tu hành.
Sỹ Phong bảo vệ cho đôi bên được lưỡng toàn:
– Thầy thông cảm với mấy “con yêu nhền nhện” này, lâu ngày bị kìm kẹp không được phá phách.

Thầy cô và bạn bè vây quanh trò chuyện, nhắc lại kỷ niệm xưa.
Từ trái sang: Anh Thư, Huệ Liên, Lê Xuyên,
thầy Thiện Thuận lần đầu đến Viện Chuyên Tu năm 2001

Từ trái sang: Tâm Nhân, Phô Ly, Phương Anh, Cẩm Tây, Thu Sa,
Mai Hùng, Võ Liêu, Lê Dinh, Mạnh Hùng, Thành Danh năm 1988
Phượng Trang năm 1987
Xuân Mai năm 1987

Nguyễn Thị Thuỳ Dung năm 1988

Thủ bút của Thuỳ Dung

Nguyễn Thị Thu Dung năm 1988

Từ trái sang: Văn Vị, Ngọc Mỹ, Xuân Mai, Thu Dung, Thuý Diễm năm 1988
Đỗ Duy Trường Kỳ năm 1988
Thủ bút của Trường Kỳ
Mai Quốc Hùng và Võ Liêu năm 1988 tại Vườn Tao Ngộ, Núi Sam
Thủ bút của Mai Quốc Hùng sau tấm hình
Nguyễn Thành Danh năm 1988
Nguyễn Văn Bùi năm 1988
Thủ bút của Nguyễn Văn Bùi
Tôi nhìn rất rõ mái tóc điểm sương của các bạn khi mọi người chụm đầu lại để cầm tay, rồi vén tay áo tôi để xem. Tự dưng trong lòng tôi dâng lên một cảm giác trống trải mênh mông đến khó tả khi chạm đến sự biến thiên của thời gian ngang qua kiếp người phù du. Chỉ một lần rẽ bước ra đi thôi, ngày trở lại đã phải ngậm ngùi:
“Phút giây bãi bể nương dâu
Cuộc đời là thế biết hầu nài sao”.
(Lê Ngọc Hân – Ai tư vãn)
Có ai đó đã nói, khi lá rơi, chúng ta biết trân trọng thời gian bên nhau; khi hoa rơi, chúng ta hiểu được tuổi thanh xuân của mình. Giờ đây, tôi lại miên man với những hồi ức ngọt ngào đan xen cảm xúc hối tiếc với lũ bạn một thời ngáo ngược chẳng biết sợ là gì, giờ ngồi bên nhau lại sợ già, sợ chết, sợ chia xa. Có đôi khi, lòng mình ngỡ rằng sẽ chẳng bao giờ gặp lại ai đó trên đường đời, nhưng kỳ thật, người đó vẫn âm thầm theo bước chân ta. Và tôi tin chắc một điều, những người bạn chân tình như thế sẽ là người yêu thương và quí mến mình đến hết cuộc đời này, dù có gặp bão giông hay chia cách đến ngàn trùng qua bao năm tháng.
John Lennon có nói: “Hãy đếm tuổi của bạn bằng số bạn bè chứ không phải số năm. Hãy đếm cuộc đời bạn bằng nụ cười chứ không phải bằng nước mắt.” Chúng tôi đa phần đều ngang tuổi nhau, ở tuổi 50 này thì cũng chưa hẳn đã già khi vẫn còn tỉnh táo để nhận ra nhau, nhưng cũng không còn trẻ nữa vì có người đã lên chức bà ngoại, ông nội. Bạn bè tôi ngày đó đông lắm, cả Khối ngày tốt nghiệp có khoảng 200 người chia thành 6 lớp. Giờ đếm lại đây chỉ ngót nghét 20 đứa, có người phải từ Sài Gòn, Long Xuyên về nữa. Tại sao qua bao năm tháng phiêu bạt, tuổi đời chồng chất mà bạn bè lại ít đi? Tôi hỏi thăm những người còn nhớ được tên thì mới biết, có nhiều bạn đã ra đi mãi mãi ở tuổi thanh xuân mà tôi không hề hay tin.
Phan Gia Khánh, cái tên nổi như cồn của trường khi đạt giải khuyến khích học sinh giỏi toán toàn quốc năm 1987 cùng với Huỳnh Hữu Thi, đã chết cách đây hơn 25 năm chỉ vì va quẹt xe nhẹ trên đường về gần nhà mà bị sụp não tại Sài Gòn, tôi không cầm được nước mắt, dù chuyện đã qua ¼ thế kỷ; Lưu Bảo Sơn học lớp 12E nhà ngay ống cống Nhà Đèn cách nhà tôi 10 căn với 50 mét cũng đã rời xa cõi tạm này bởi một cơn suyễn năm 1993; Trương Thị Kim Phụng lớp 12C bỏ lại con thơ vì căn bệnh ung thư đại tràng quái ác; Lê Bá Hùng lớp 12E cũng đã tử nạn vì giao thông nghiệt ngã…
Từng cung bậc cảm xúc trôi nhanh qua với từng mảnh đời bất hạnh của bạn bè xưa được kể cho tôi nghe, mọi người kể như để khơi lại chút tro tàn của ký ức khi còn có nhau, và cũng để cung cấp cho tôi những thông tin cần thiết của những người một thời áo trắng như tôi chịu cảnh bạc mệnh, vô phần. Rồi những người bạn thất chí, thất bại, thất tình, thất nghiệp… cũng được liệt kê theo ghi nhận của mỗi người. Tôi khó lòng một lúc có thể nhớ được hết để sống trọn vẹn với hồi ức tuổi thơ, nhưng làm sao được khi dòng đời cứ xô đẩy chúng ta càng xa bến bờ bình yên trong cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc. Hạnh phúc có phải là con đường đâu mà đi tìm, bình yên có phải là bến bờ đâu mà xuôi ngược rong ruổi như những con sóng bạc đầu tan trên cát.
Tôi cũng thoáng buồn khi nghe các bạn kể về những đứa bạn gian dối, phản bội bạn bè và làm khổ người thân. Tôi công tâm chia sẻ với các bạn, gặp người tốt hay xấu đều có nguyên nhân từ quá khứ cả, đương nhiên là mình sẽ bị tổn thương khi ai đó đối xử tệ bạc, và ngược lại, sẽ cảm thấy hỷ hả khi gặp người tốt bụng. Rồi thì, kẻ tốt cũng không ở lâu, người xấu cũng đâu tồn tại mãi, chỉ có mình với những buồn vui kiếp người mà thôi. Lòng mình trong sáng, hãy để nó được lan tỏa đúng với bản chất của nó, dù có buồn vui thì cũng dài ngắn trong kiếp người mà thôi. Tôi triết lý một chút, khi mình cũng là một nắm xương khô thì hà cớ gì lại hơn thua với một nắm xương khô khác? Thôi đừng bức xúc hay buồn thương gì nữa, hãy trả hết về với hư không đi để đời mình thêm thanh thản, vì ngày mai mình vẫn còn phải lo toan nhiều thứ mà.
Vui buồn nào cũng qua
Thành bại nào cũng bỏ
Đến đây bàn tay trắng
Trở về nắm xương khô!
Tôi nhớ đến câu chuyện thật ý nghĩa về tình bạn được viết lên cảm xúc của mình trên cát và đá, chuyện kể rằng: Có hai người bạn thân cùng đi trên sa mạc, họ nói chuyện với nhau và đã có một cuộc tranh cãi gay gắt. Không giữ được bình tĩnh, một người đã tát người bạn của mình. Người kia rất đau, anh không nói gì, chỉ lặng lẽ viết lên cát rằng: “Hôm nay, bạn tốt nhất của tôi đã tát vào mặt tôi”. Họ tiếp tục bước đi cho tới khi nhìn thấy một ốc đảo, nơi họ quyết định sẽ dừng chân và tắm mát. Người bạn vừa bị tát do sơ ý bị trượt chân xuống một bãi lầy và ngày càng lún sâu xuống, người bạn kia đã kịp thời cứu anh. Ngay sau khi hồi phục, người bạn suýt chết đuối khắc lên tảng đá dòng chữ: “Hôm nay, bạn tốt nhất của tôi đã cứu sống tôi”. Người bạn kia hết sức ngạc nhiên bèn hỏi: “Tại sao khi tớ làm cậu đau, cậu lại viết lên cát; còn bây giờ lại là một tảng đá?”. Người bạn trả lời: “Khi ai đó làm chúng ta đau đớn, chúng ta nên viết điều đó lên cát, nơi những cơn gió của sự thứ tha sẽ xóa tan những nỗi trách hờn. Nhưng khi nhận được điều tốt đẹp từ người khác, chúng ta phải ghi khắc chuyện ấy lên đá, nơi không cơn gió nào có thể cuốn bay đi”.
Tôi chỉ mong sao, bản thân tôi cũng những bạn bè tôi sẽ học cách viết những nỗi đau lên cát và khắc những niềm vui và hạnh phúc bạn tận hưởng trong cuộc đời lên tảng đá để mãi không phai.
Nguyễn Văn Bùi năm 1989
Võ Liêu, Thanh Phương, Thanh Dũng năm 1989 bên ao trước căn tin phòng thầy Bé (dạy Địa lý)
Lữ Huệ Liên năm 1989
Thủ bút của Huệ Liên
Thuý Diễm năm 1989
Thủ bút của Thuý Diễm
Nguyễn Thị Trúc Minh năm 1989

Từ trái sang: Thu Dung, Ngọc Mỹ, Xuân Mai, Kim Ngọc,
Ngọc Loan, Thuý Diễm, Anh Thư

Từ trái sang : – Hàng đứng: Quốc An, Quốc Thịnh, Thông, Hoàng Huy, Thanh Tùng,
Hoàng Minh ( A ), Trương Văn Hùng, Bảo Sơn, Trường Kỳ
– Hàng ngồi: Thiện, Hoàng Minh ( B ), Tuần Khanh, Huyên Phương, Triết,
Danh, Hồ Minh Hoàng, Khắc Hoàng
( Đội hình nam – Lớp 12E – năm 1989 )
Từ trái sang: Nguyễn Lê Dinh, Mai Quốc Hùng, Võ Liêu,
Phạm Mạnh Hùng, Trịnh Thanh Phong, Nguyễn Thành Danh, Trương Văn Vị.
Nhóm Tứ quý lớp 12F, từ trái sang: Anh Thư, Ngọc Mỹ, Xuân Mai, Thu Dung
Nữ sinh lớp 12F trong đợt học quân sự năm 1989
Từ trái sang: Ngọc Loan, Anh Thư, Huệ Liên, Mỹ Chi, Thu Dung,
hai bạn phía sau bị che khuất,
Xuân Mai, Thanh Huyền, Kim Ngọc, Thùy Dung, Thuý Diễm, Bích Thủy.

Từ trái sang: Thuý Diễm, Thuỳ Dung, Xuân Mai, Trúc Minh, Ngọc Loan,
Võ Liêu, Thanh Dũng, Hoàng Tuấn, Thành Công, Thế Phong
Từ trái qua – Hàng đứng : Dương Ngọc Trang, Ngọc Loan, Mai Phương, Ngọc Ánh,
Tuyết Minh, Kim Tuyến, Lưu Phương, Nguyễn Thị Mỹ, Dương Thị Thuận
– Hàng ngồi : Bửu Anh, Thanh Nhàn, Phô Ly, Nguyễn Thị Long, Tuý Anh, Phương Hoa

Từ trái sang : Dương Ngọc Trang, Nguyễn Thị Mỹ, Ngọc Ánh, Phương Hoa,
Mai Phương, Tuyết Minh, Lưu Phương, Phô Ly, Nguyễn Thị Long, Kim Tuyến,
Ngọc Loan, Bửu Anh, Thanh Nhàn, Thầy Nguyễn Hiền Trí ( Lý ) – các bạn nữ 12E
Tiếng cười nói của những cựu học sinh già chúng tôi khiến không gian bị ồn ào hơn. Các thầy giáo trẻ ngồi quanh đều nhìn qua, nhưng có vẻ cảm thông nhiều hơn là khó chịu, vì các thầy giáo này học sau chúng tôi. Bụi đời ở đâu, chứ chúng tôi về trường cũ ngồi trước các bạn học niên khóa sau thì vẫn được coi là đàn anh, nghĩ cũng oai gớm. Một phần, có lẽ thấy vị “Sư phụ” ngồi đạo mạo giữa “quần hùng võ lâm” nên chắc cũng ngán “72 tuyệt kỹ của Thiếu Lâm”, do vậy các vị cũng cười vui theo không khí sum vầy của bọn tôi, mặc cho loa phóng thanh vang đều các tiết mục âm nhạc chờ nội dung chương trình hành chánh diễn ra.
Đột nhiên, có tiếng loa inh ỏi mời tôi thay mặt cho cựu học sinh lên thắp hương cùng với Ban Giám hiệu và các vị lãnh đạo thành phố Châu Đốc. Tôi đứng lên theo sự hướng dẫn của thầy lễ tân đến trước tượng đài cụ danh sĩ Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872) dâng hương tưởng niệm bậc kỳ tài mang chí lớn giúp vua phò vận nước khi ngoại bang xâm lăng, nhưng lại lận đận vì những kẻ vô tài bất tướng hãm hại.
Chuyện xưa chép lại rằng, ông đỗ Giải Nguyên (thủ khoa) kỳ thi Hương tại Gia Định năm 1835, được bổ làm Tri huyện Trà Vang (Trà Vinh), tánh cương trực thương dân nên hết lòng bảo vệ người dân Kh’mer ở Làng Thé mà bị tham quan Tổng đốc Trương Văn Uyển gán tội kích động thổ dân, bắt giải về Gia Định rồi dâng tấu về triều đình xử tội chết. Nhận được tin dữ, vợ ông là Nguyễn Thị Tồn đã quá giang ghe bầu, vượt sóng gió ra tận kinh đô Huế kêu oan. Bấy giờ, Phan Thanh Giản đang làm Thượng thư Bộ Lại. Bà tìm đến tư dinh ông Phan trình bày hết mọi việc, rồi nghe theo lời khuyên, bà đến Tam pháp ty gióng trống “kích cổ đăng văn” (đánh trống, đội đơn) kêu oan cho chồng. Sau sự kiện chấn động này, Bùi Hữu Nghĩa được vua Tự Đức tha tội chết, song phải chịu “quân tiền hiệu lực”, tức bị đày làm lính ở đồn Vĩnh Thông thuộc tổng Châu Phú (Châu Đốc) đoái công chuộc tội.
Sau khi ra Huế đánh trống kêu oan cho chồng, bà được Thái hậu Từ Dũ (mẹ vua Tự Đức), ban cho tấm biển chạm 4 chữ vàng “Tiết phụ khả gia”. Tuy cứu được chồng, nhưng khi trở về đến quê nhà ở Biên Hòa, thì bà lâm bệnh mất và được an táng ở nơi đó… Nghe tin vợ mất, lúc bấy giờ Bùi Hữu Nghĩa đang ở biên trấn xa xôi, khi đến Biên Hòa thì việc an táng đã xong, ông đành làm bài văn tế muộn, một cặp câu đối để tỏ lòng thương tiếc:
Ngã chi bần, khanh độc năng trợ;
ngã chi oan khanh độc năng minh, triều quận công xưng khanh thị phụ.
Khanh chi bệnh, ngã bất đắc dưỡng;
khanh chi tử ngã bất đắc táng, thế gian ưng tiếu ngã phi phu.
Dịch:
Ta nghèo, mình hay giúp đỡ;
ta tội, mình biết kêu oan, trong triều ngoài quận đều khen mình mới thật là vợ.
Mình bịnh, ta không thuốc thang;
mình chết, ta không chôn cất; non sông cười ta chẳng xứng gọi là chồng.[1]
Người xưa nay đã còn đâu, còn chăng tấm lòng sắt son cùng non nước! 30 năm trở về, gặp nhau trong mừng rỡ, rồi cùng nhau xót xa cho tháng ngày đã qua, cho những người thân quen một lần cất bước ra đi không bao giờ trở lại. Xót xa cho chính mình, thân chùm gởi bám cành mục nhân gian cheo leo giữa bão giông cuộc đời, không biết ngày nào phải buông tay. Khi cuộc đời chỉ là quán trọ, bạn bè tôi và cả tôi cũng thế, không thể có cho nhau những lời ước hẹn chắc chắn cho lần tái ngộ nữa, nên giữa sân trường, những mái đầu điểm bạc, những vầng trán nhiều nếp nhăn, những đôi mắt mờ mịt không biết vì nắng gắt đã lên, hay vì nước mắt trong lòng đã rơi, cứ xúm xít bên nhau không muốn nói lời từ biệt. Biết đâu:
Chia tay rồi mỗi người theo gió bụi
Trường làng quê nay lại bỗng xa xôi
Nắng sầu rơi theo chân điệu hấp hối
Ai đếm được, trở lại có bao người.
Bạn bè ơi, tôi sẽ nhớ lắm, quý lắm những gương mặt, những ân tình của ngày hôm nay. Nhớ cả cái nắm tay đầu tiên trong đời tu của mình đến từ những người bạn nữ, da đã nhăn, mắt đã sụp mí nhưng sáng trong trái tim bạn bè luôn dõi theo nhau trên vạn nẻo đường đời. Tất cả đều là những người bạn tốt của tôi!
Ít phút nữa thôi, mỗi người lại một hướng đi. Cuộc sống chúng ta lại là những ngả rẽ bí hiểm không biết ra sao về sau khi khoác lên người nhiều vai diễn trên sấn khấu cuộc đời, mong ngày kia mình được làm khán giả nhìn về phía sân khấu ấy để tự tại giữa biến thiên có có không không. Riêng tôi, nhờ có duyên lành ra đời gặp đạo xuất gia, bỏ lại sau lưng vật chất thường tình, sắc tướng thế gian không vướng bận, việc buồn vui thế tục không còn là chuyện vương mang. Nhưng tôi vẫn xin được níu kéo phút giây này, thả vào hư không, nhờ gió đường xa gởi về ngôi trường Châu Đốc năm xưa lời tri ân và xin lỗi của người học trò xa xứ, một lần đi không ước hẹn ngày về.
Chân dung Võ Liêu (thầy Thiện Thuận) năm 1987 và 2007,
chặng đường 18 năm sau khi xuất gia.

Tác giả: Thượng tọa Thích Thiện Thuận