Khi con lọc cọc gõ những dòng chữ đầu tiên này trên bàn phím, cũng là khi có một nhóm “đồng đội” của Viện Chuyên Tu (VCT) miền Bắc đang được ở trong Chùa Nhà. Chuyến bay Hà Nội – Sài Gòn đã được hạ cánh buổi trưa ngày hôm qua, chuyến bay mà đáng […]
Khi con lọc cọc gõ những dòng chữ đầu tiên này trên bàn phím, cũng là khi có một nhóm “đồng đội” của Viện Chuyên Tu (VCT) miền Bắc đang được ở trong Chùa Nhà. Chuyến bay Hà Nội – Sài Gòn đã được hạ cánh buổi trưa ngày hôm qua, chuyến bay mà đáng lẽ ra, đã có mặt con cùng ông xã và 2 đứa trẻ. Chuyến bay mà vợ chồng con đã cùng quyết định chốt vé chỉ trong vòng 5 phút, và chỉ cách giờ khởi hành vỏn vẹn 12h đồng hồ… Chuyến bay mà đáng lẽ ra, đã giúp cả gia đình con cũng sẽ đang có mặt tại Chùa Nhà trong giây phút này – giống như các thành viên của miền Bắc đang được quây quần nơi ấm cúng. Cũng chỉ vì đại dịch Covid 19 đầy nghiệt ngã, mà chỉ trước giờ khởi hành vài tiếng nữa thôi, anh nhà đã đẩy cho con một quyết định thật đanh thép lạnh lùng: “Em đi với mọi người, anh ở nhà trông con, vé của anh coi như huỷ”. Sẽ chẳng có gì đáng phải bàn cãi hay tranh luận nếu chuyến bay này chỉ đơn giản là chở con cùng mọi người đi “du lịch”.

Không, hoàn toàn không phải thế. Mỗi lần có thể thu xếp thời gian, công việc, và cả tài chính nữa, để có thể bước chân trở lại Chùa Nhà là mỗi lần chúng con náo nức, hồi hộp, chờ mong. Chúng con về VCT cơ mà, chúng con được trở về Nhà cơ mà! Không phải, và không bao giờ đơn thuần là chúng con đi du lịch. Bởi thế, khi anh nhà cứ khăng khăng cương quyết với lựa chọn của mình, con đã thấy mình như đứng trước hố sâu của tuyệt vọng và tăm tối. Đường về Nhà chỉ cách một bước chân… Chuyến bay chỉ còn vài tiếng nữa là cất cánh… Bộ đồ lam sau bao nhiêu ngày nằm yên trên mắc áo đã được lấy ra là lại cho ngay ngắn… tất cả, tất cả bỗng chốc trở nên đầy bẽ bàng và cay đắng. Nước mắt cứ thế tràn ra và con cứ thoả sức khóc tu tu không kiềm chế. Anh nhà bảo: “Ơ hay, em cứ đi đi, anh ở nhà trông con cho em đi cơ mà”. Nhưng con biết, con tự biết, làm sao con có thể bước chân đi khi 1 đứa nhỏ mới 18 tháng và 1 đứa bé mới chào đời được 2,5 tháng tuổi.
Làm sao đây, làm sao con bước chân đi cho đành… Vậy là, con lại gục mặt trên tay mình, khóc trong tấm tức. Ai đó sẽ bảo rằng, ôi giời ơi làm gì mà nghiêm trọng thế, không đi lần này thì đi lần khác, thiếu gì dịp. Còn nữa, những người đã từng thân quen với con trước đây sẽ tròn mắt hoặc bĩu môi cười nhạt bảo rằng: Hả, cái gì, mày khóc vì không đi chùa được á? Mày hâm à? Mày mà lại thích đi chùa cơ á?

Dạ vâng, chẳng phải ngẫu nhiên mà người ta ngạc nhiên về con như vậy. Bởi lẽ, trước đây, con chưa bao giờ biết đến hai chữ “đi chùa”. Thậm chí, nói theo cách dân dã thì con là đứa “vô sư vô sách vô thần vô thánh”. Xưa giờ, ngay cả từ trong suy nghĩ, con cũng chưa bao giờ tin vào bất cứ một đấng siêu nhiên nào. Lý do tại sao, thì đó là cả một câu chuyện dài chẳng có gì vui vẻ….
Sinh ra và lớn lên ngay tại thủ đô Hà Nội, nhưng từ khi còn tấm bé thì con được biết, nhà chỉ có hai mẹ con. Bố mất lúc con chỉ vài tháng tuổi, nghe kể thì con được biết rằng nhà nội là gia đình thuộc dạng “trâm anh thế phiệt”- cả nhà nội đều giữ những chức vụ quan trọng và quá dư dả về tiền tài, danh vọng. Chẳng biết có phải vì thế không mà sau khi bố mất, vì sợ phải phân chia khối tài sản khổng lồ mà mẹ con đã dứt khoát ôm con ra đi, khi đó con vừa tròn 12 tháng tuổi, bước chân ra khỏi nhà nội chỉ duy nhất với va li quần áo trên tay. Mẹ nuôi con 1 mình. Với tất cả kiêu hãnh và muôn vàn cực nhọc của đồng lương giảng viên đại học trong những năm 80 của thế kỷ trước.
Vừa làm bố, vừa làm mẹ, tay dịu dàng đưa nôi cho con gái nhỏ, và cũng đôi bàn tay ấy mạnh mẽ đóng đinh, sửa mái nhà tập thể cũ nát mỗi trận mưa lại dột nước tong tong. Con cứ thế lớn lên với êm đềm từng bữa cơm mẹ nấu, con cứ thế lớn lên với từng trận ốm mà chỉ có mẹ chở con trên chiếc xe đạp lọc cọc, vượt gần 10 cây số trên con đường lổn nhổn ổ gà để đến phòng y tế của trường mẹ xin mấy viên cảm xuyên hương hay B1 thông thường. Con lớn lên với từng mũi tiêm trên tay cũng ở phòng y tế trong khuôn viên của trường mẹ dạy. Mãi sau này con mới hiểu, một thời khó khăn đến độ mẹ cũng sẽ phải đắn đo tằn tiện mỗi khi nhắc đến từ “Bệnh viện”.

Kể sao cho hết sóng gió gian nan của một người mẹ trẻ phải một mình nuôi đứa con gái nhỏ. Con đã có một tuổi thơ thiếu hụt bóng dáng người cha, nhưng con có dư thừa tự tin và kiêu hãnh của mẹ. Mẹ soạn bài, dạy học, mẹ nhận bóc lạc thuê, mẹ nhận đan len, mẹ nhận tất cả những việc làm để con có thêm dù chỉ là một cốc sữa đậu nành. Nhưng mẹ cương quyết không nhận một xu một cắc một đồng nào từ nhà nội đầy uy thế về danh tiếng và đầy sung túc về tiền bạc. Vậy đó, con lớn lên và chỉ có duy nhất mẹ…
Những tưởng rằng cuộc sống dù chật vật nhưng cứ thế lẳng lặng xuôi dòng trong căn nhà tập thể bé xíu của 2 mẹ con. Thì tới năm con 13 tuổi, mẹ phát hiện mình đã bị ung thư giai đoạn cuối. Đó là thời điểm của những năm 93-94. Khi y học còn chưa được phát triển mạnh mẽ như bây giờ. Khi chính con, và cả nhiều người khác nữa, còn chưa kịp hiểu “ung thư giai đoạn cuối” nghĩa là như thế nào, thì mẹ đã tự mình ngồi đàm đạo với bác sỹ về chính căn bệnh của mẹ, thì mẹ đã tự mình lên bàn mổ 2 lần và gửi con nhờ ông ngoại trông với lý do mẹ đi công tác. Mẹ đã chiến đấu âm thầm một mình như thế – không hé răng nói nửa lời cho ông bà ngoại và cho con được biết. Lúc cả nhà biết tin, là thông qua đồng nghiệp của mẹ ở trường đại học. Các cô ấy đã thay nhau chăm sóc mẹ. Và chỉ khi mẹ đối mặt với lần mổ thứ ba chưa rõ sống chết thế nào, thì các cô ấy mới bất chấp đề nghị của mẹ mà chủ động báo cho ông bà ngoại được biết. Khi đó, con mới 13 tuổi.
Những gì con nhớ được sau đó, là những ấm thuốc của mẹ con sẽ đun thế nào, sẽ chắt mấy lần nước bỏ đi và sẽ giữ lại thuốc ở lần đun thứ mấy… Con cũng chưa bao giờ hiểu và chưa từng nghe đến “bệnh ung thư”. Con cũng khờ khạo đến mức chẳng biết được rằng, thời gian của mẹ chỉ được tính bằng cấp số trừ mà những đớn đau thể xác của mẹ lại được tính bằng cấp số nhân khủng khiếp. Để rồi cuối cùng, mẹ chủ động uống thuốc ngủ chứ nhất quyết không để đau đớn bệnh tật cuốn mình đi. Người mẹ đã sinh ra con với tất cả nâng niu, người mẹ đã một mình nuôi con với tất cả kiêu hãnh, và cuối cùng, mẹ cũng chọn cách ra đi đầy ngạo nghễ và bạo liệt. Cả cuộc đời của mẹ, chưa từng bao giờ con thấy mẹ thắp hương hay cầu khấn điều gì. Mẹ luôn bảo, tất cả là do đôi bàn tay mình thôi, chẳng có đấng quyền năng nào hết. Đứa con gái nhỏ là con ngày đó, còn chưa kịp lớn, chưa kịp khôn, đã vĩnh viễn trở thành một đứa bé côi cút, lạc lõng, bơ vơ trong chiều mùa đông ảm đạm. Buổi chiều mà mẹ lựa chọn rời bỏ con, rời bỏ cuộc đời này, rời bỏ đớn đau. Mẹ rời bỏ với tất cả dặn dò về đám tang cho mẹ, mẹ rời bỏ với lá thư viết tay trên mặt giấy A4 để ghi lại lời cảm ơn với từng cá nhân, bạn bè, cơ quan, trường học… đã từng giúp đỡ và động viên mẹ không sót một ai, không thiếu một cơ quan, tổ chức nào. Thậm chí, mẹ rời bỏ tất cả và để sẵn cả một số tiền để mọi người lo hậu sự cho chính mẹ… Con, khi đó, ngơ ngác và bàng hoàng đến mức không thể nào khóc được. Con cứ đứng ngây ngốc ở góc nhà, đờ đẫn trước những cái ôm, những cái xoa đầu của các cô, các bác. Con mất mẹ trong bàng hoàng, đau đớn của tuổi chưa biết nỗi tủi hờn kiếp mồ côi. Còn mẹ, mẹ đã chọn cách ra đi đầy nghiệt ngã.

Đứa trẻ chỉ hơn 15 tuổi ấy là con, dường như đã vĩnh viễn trở nên khô cứng và quyết liệt trong buổi chiều mùa đông năm ấy. Trầy trật lớn lên với muôn vàn cay đắng, tủi thân, hụt hẫng. Và, cũng giống như mẹ, kể từ đó, con chẳng còn tin vào bất kỳ điều gì ở trên đời. Con chẳng còn tin vào ai nữa. Thậm chí, trong những thời khắc tột cùng của tuyệt vọng, con đã giận chính mẹ, con đã vật lộn với suy nghĩ rằng: mẹ sinh con ra trên đời này để làm gì? Con đã từng dại dột trách hờn: Nếu sinh con ra mà để con phải khổ sở thế này, thà mẹ đẻ ra đứa khác còn hơn.
Dạ vâng, đấy là năm con chưa tròn 16 tuổi, suy nghĩ đó đã đeo bám con cho đến tận khi trưởng thành. Con đi học, đi làm, con sống và lớn lên đầy chật vật khi tim trống hoác vì những vết thương lòng cũ, mới. Và thật khốn khổ cho con, con cũng dư thừa kiêu hãnh lạnh lùng như mẹ, nên con cũng chưa từng bao giờ tin vào thế giới tâm linh. Đền, chùa, Phật, Thánh, tất cả… tất cả đối với con, đầy xa lạ mà cũng đầy oán thán. Con vẫn tự trào, rằng trên đời nếu có những đấng siêu nhiên đó, thì tại sao cả mẹ và con lại bị đầy đoạ khổ sở tới dường này. Con, thậm chí, còn từ chối tất cả các cuộc du xuân của trường học, của cơ quan nếu trong hành trình có đền chùa miếu mạo. Con cứ gai góc, con cứ như con nhím xù lông để tự bảo vệ chính mình. Không tin ai, cũng chẳng cần ai tin và chưa có một ai khiến con nể phục. Con cứ nhìn đời bằng con mắt cảnh giác, dè chừng và lạnh nhạt, dửng dưng. Những tổn thương trong suốt quãng đời dài thật dài trước đó, những ấm lạnh tình người con đã từng bước qua trước đó, khiến con thật sự trở nên cay nghiệt với thế giới tâm linh. Thậm chí, ngay cả khi đã kết hôn rồi, anh nhà rủ con đi chùa con đều từ chối hết. Anh thì khác, anh đã quy y từ khi anh mới 20 tuổi, nghĩa là khi anh quy y thì con mới chỉ là đứa nhóc 11 tuổi mà thôi. Vậy mà suốt 9, 10 năm sau khi cưới, con vẫn hoàn toàn xa lạ và thậm chí ghét việc đi chùa. Cũng chừng đó thời gian, chúng con vẫn chưa có em bé dù đã đi khám xét và chữa chạy khắp nơi. Bác sỹ nào và bệnh viện nào cũng kết luận rằng tụi con thuộc trường hợp “vô sinh không rõ nguyên nhân”. Điều này càng khiến cho con ác cảm với đời sống tâm linh mỗi khi có người khuyên: Chúng mày phải đi lễ đường âm xem thế nào…

Chừng đó chông gai gói gọn trong một vài con chữ, cũng chỉ là để lý giải vì sao những người đã từng quen biết con, họ lại muôn phần ngạc nhiên khi biết con “bỗng dưng” lại thích đi chùa và “thần tượng” một “ông thầy tu nào tít trong Nam ý.”
Ngạc nhiên có. Mỉa mai cũng có luôn. Họ từng ví von, việc con thích đi chùa cũng giống như “tuyết rơi mùa hè”. Và cũng không ít dè bỉu: Tiền đã không có còn bay ra bay vào. Rồi thì: Ở Hà Nội thiếu chùa cho mày đi à mà mày phải bay xa lắm thế… Con đáp lại chỉ với một nụ cười tủm tỉm. Trách họ làm sao được, khi chính anh nhà con còn phải ngạc nhiên thốt lên: Thế mà hồi xưa anh rủ đi chùa mãi thì kêu em ghét lắm!
Con đã từng như thế, đã từng gai góc và cay nghiệt, đã từng lạc lõng như một con ngựa bất kham. Ấy thế mà, điều gì khiến một đứa ương ngạnh lạnh lùng như thế dễ dàng khóc tu tu khi không thể về chùa? Ai là người đã dư thừa sức mạnh đẩy lăn đi tảng đá trĩu nặng của cố chấp và sân hận trong con? Câu trả lời, chắc hẳn chẳng có ai là không biết. Nhưng, tại sao, và bằng cách nào? Tại sao chỉ là một thầy tu áo vải đơn sơ mà lại có thừa sức mạnh và niềm tin để truyền cho con và cho triệu triệu người đang đắm chìm trong quay cuồng vật lộn? Bằng cách nào mà từ những người dưng chẳng hề có một chút liên quan, tất cả chúng con lại có thể kề vai sát cánh bên nhau trong ấm êm thấu cảm? Bằng cách nào mà chỉ một đôi dép tổ ong giản dị lại có thể bước xa vạn dặm, đặt những bước chân êm đềm gieo những hạt mầm ươm đầy trái ngọt vào những tâm hồn đang kiệt quệ niềm tin? Cho đến tận bây giờ, đó vẫn một – trong muôn vạn điều kỳ diệu mà con – và tất cả chúng con – được nhận lấy kể từ khi, tất cả chúng con, được Trở Về …
(còn tiếp…)
Phật tử Diệu Mỹ