Hạnh viễn ly thể hiện qua ba phương diện. Về phương diện địa lý, sống viễn ly là sống ở nơi thanh vắng (thân viễn ly) thường là ở nơi rừng núi, nhằm hỗ trợ cho đời sống nội tâm được thanh tịnh, trong sáng (tâm viễn ly). Về phương diện tâm sinh lý chính là đoạn tận tất cả những ham muốn hưởng thụ phàm tục đưa đến luân hồi (sanh y viễn ly). Nhờ thực tập hạnh viễn ly mà hành giả rời xa các buộc ràng của thế gian, bằng lối sống giản dị, ít muốn biết đủ…

Sáng ngày 26/06/2024 (21/05/Giáp Thìn), Thượng tọa Thích Thiện Thuận, Hóa chủ kiêm Giám luật Hạ trường đã quang lâm về Đại hùng bửu điện chùa Vạn Thiện để tiếp tục chia sẻ pháp thoại tới chư hành giả an cư với chủ đề “Hạnh viễn ly”.

Trong buổi học này, Thượng tọa giáo thọ đã nêu lên những điểm khác biệt giữa truyền thống viễn ly của tăng đoàn thời đức Phật còn tại thế được lưu lại trong kinh Nikaya và tinh thần viễn ly của hành giả thiền tông, để chư hành giả có cái nhìn khách quan hơn về sự viễn ly trong việc nhập thế hành đạo.

Hạnh viễn ly thể hiện qua ba phương diện. Về phương diện địa lý, sống viễn ly là sống ở nơi thanh vắng (thân viễn ly) thường là ở nơi rừng núi, nhằm hỗ trợ cho đời sống nội tâm được thanh tịnh, trong sáng (tâm viễn ly). Về phương diện tâm sinh lý chính là đoạn tận tất cả những ham muốn hưởng thụ phàm tục đưa đến luân hồi (sanh y viễn ly). Nhờ thực tập hạnh viễn ly mà hành giả rời xa các buộc ràng của thế gian, bằng lối sống giản dị, ít muốn biết đủ.

Bước đầu tiên hành giả cần chọn pháp hành độc cư, độc hạnh. Độc cư từ lâu đã trở thành một hình thức lý tưởng cho hành giả thực tập hạnh thân viễn ly, mục đích tạo dựng được không gian vắng lặng trong tâm hồn, tránh xa các ngoại duyên. Rõ ràng đây là lẽ sống của người ước muốn sự an tịnh.

Giáo thọ sư cho biết chốn A-lan-nhã (nhàn xứ) không phải là là chỗ hành giả không làm gì để hưởng thụ sự an nhàn mà là nơi có thể giúp hành giả tìm được sự tĩnh lặng trong tâm hồn không còn vướng vào phiền não. Nơi mà hành giả có khả năng phát triển tâm thức sáng suốt khi các dục lắng xuống, không cảm thấy mệt mỏi bởi sự thúc đẩy của tham đắm, tranh chấp, hoặc tránh những tác động xấu bởi không gian, môi trường, và thời tiết. Thực tập đời sống độc cư để chuyên tâm vào sự tĩnh lặng bắt đầu cho quá trình hành thiền của một hành giả. Quán tưởng, trì chú, niệm Phật, lễ bái…đều là những pháp môn đưa đến sự tĩnh lặng. Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm thí, niệm giới cũng đã có từ thời đức Phật dạy cho cả chúng xuất gia và tại gia.

Nhưng thực tế cho thấy nếu những ý niệm xung đột phản ứng trong tâm thì hành giả làm sao tìm được sự rỗng lặng, một người yêu mến sự nhàn tịnh nếu có sự tỉnh thức song hành thì lối sống độc cư sẽ trở nên khá lý tưởng. Người có tỉnh thức tuyệt đối không bị vướng kẹt vào lối sống độc cư, cũng không gặp khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng. Nếu vẫn còn cảm thọ mệt mỏi khi ở chỗ đông người có nghĩa là hành giả ấy chưa từng đạt được sự tĩnh lặng; ngược lại, khi tiếp xúc với chỗ đông người là thời điểm hành giả nhận thức rõ những nguy hiểm của vị ngọt dục lạc thế gian dẫn đến khổ lụy dài lâu xuất phát từ năm thứ ham muốn tiền bạc, vật chất, sắc đẹp, ăn uống no say, ngủ nghỉ êm ái; từ đó hoàn toàn tự nguyện sống đời giản dị, không vướng kẹt vào tham chấp, hạn chế các ngoại duyên, tuân thủ nếp sống của người có giới đức, giới hạnh; dành nhiều thời gian công phu hành trì giúp cho tâm được an tịnh.

Thứ hai là tâm viễn ly, nghĩa là hành giả thực tập để có được tâm thức trong sáng, an tịnh, thấy biết đúng như thật; không còn kẹt vào sự ham muốn (dục niệm), sự hơn thua (sân niệm), mưu toan làm tổn hại người khác (hại niệm); đồng thời không còn chạy theo thứ mình thích (dục tầm), không chạy theo cảm thọ bực tức hoặc trốn chạy sự bất mãn (sân tầm) và những ý tưởng thù hiềm, chống đối (hại tầm).

Dẫn lời Tam tổ Tăng Sáng, giáo thọ sư cho biết chỉ cần đừng mắc kẹt vào sự thương ghét thì tâm trí được rỗng rang, sáng suốt ngay trong đời sống tu tập của mình, đây là hệ quả từ công phu giới định tuệ đúng nghĩa. Hành giả từng bước thấy rõ sự tập khởi, đoạn diệt, nguyên nhân của phiền não và thấy được cảnh giới an lạc sau khi phiền não kết thúc, thậm chí thấy rõ được sự xuất ly của ngũ uẩn. Việc kiểm soát các dục niệm, sân niệm, hại niệm và dục tầm, sân tầm, hại tầm được ví như cách nắn dòng chảy để tránh bị sạt lở hai bên bờ sông vậy, Nếu có thể uốn nắn, thuần hóa tâm, đạt được sự định tĩnh trong sáng hành giả sẽ thấu rõ bản chất duyên sanh, nhận ra các pháp là vô thường khổ vô ngã, dễ dàng buông bỏ hết mọi ham muốn, bặt dứt vọng tưởng mê lầm.

Một số hành giả ưa thích độc cư nhưng chỉ dừng lại ở chỗ thân viễn ly mà không tiến xa được đến chỗ tâm viễn ly, bên cạnh đó, có những hành giả vướng kẹt trong pháp hành qua việc nôn nóng thực tập tâm viễn ly mà thân chưa được viễn ly, tự cho mình cư trần bất nhiễm trần, lầm tưởng sau khi đã nghiên cứu thiền ngữ, xem công hạnh của Tổ sư mà nghĩ đã đủ và đạt được thành tựu,vô tình phá hỏng tiến trình tu tập vì không theo thứ lớp.

Thứ ba là sanh y viễn ly, chính là buông bỏ những tham ái và chấp thủ, soi rọi trong từng sát na để thấy rõ những nguyên nhân dẫn hành giả tái sanh nhiều đời nhiều kiếp, sanh tử nối tiếp nhau bởi chúng ta chưa từng ra khỏi ba cõi, nếu không thực học thực tu biết bao giờ mới dừng nghỉ, giải thoát nẻo khổ luân hồi.

Thượng tọa giáo thọ khuyến tấn chư hành giả nên suy ngẫm rằng tập khí tham sân si vốn tích tụ sâu dày trong tâm thức cần phải được tẩy rửa đúng phương pháp, vì vậy hành giả cần kiên trì nỗ lực trong việc thực hành hạnh viễn ly, cố gắng nhận thức sâu sắc về sự nguy hại của ngũ dục và vô thường vô ngã của ngũ uẩn để nhiếp phục, buông bỏ tham ái và chấp thủ để từng bước thanh lọc nội tâm.