Nam mô A Di Đà Phật, Kính bạch Thầy. Khi bàn về cuộc sống nhân sinh, một học giả phương Tây đã nhận định: Ý nghĩa cuộc sống không phải ở chỗ đem đến cho ta điều gì, mà ở chỗ ta có thái độ đối với nó ra sao; không phải ở chỗ điều […]

Nam mô A Di Đà Phật,

Kính bạch Thầy.

Khi bàn về cuộc sống nhân sinh, một học giả phương Tây đã nhận định: Ý nghĩa cuộc sống không phải ở chỗ đem đến cho ta điều gì, mà ở chỗ ta có thái độ đối với nó ra sao; không phải ở chỗ điều gì xảy ra với ta, mà ở chỗ ta phản ứng với những điều đó như thế nào. Những suy nghĩ, ứng xử của Tiểu thư Tu-ma-đề trong bài học Thầy dạy chúng con là một minh chứng sinh động cho luận điểm đó, giúp chúng con thấy được bức chân dung đẹp của một nữ cư sĩ trẻ với lòng kính tin Tam bảo sâu sắc, tâm hạnh vô úy và tâm nguyện cao cả hộ trì chánh pháp, được Đức Phật khen ngợi là “hạt châu sáng” với giới hương thơm ngát trong hàng Phật tử tại gia.

Tín chủ Tu-ma-đề là con gái út của gia đình thấm nhuần đạo pháp. Cha của cô là  Trưởng giả Cấp Cô Độc, được mọi người xa gần biết đến về tấm lòng hộ trì Phật Pháp rộng lớn, phi thường; mẹ của cô được mọi người yêu kính về phẩm chất nhân hậu, thuần thiện, thường xuyên hộ trì Tam bảo. Gia đình cô đã phát nguyện cúng dường ngôi Kỳ Viên tinh xá và phát tâm cúng dường thức ăn, thuốc men tới Đức Phật và Tăng đoàn đến trọn đời. Không gian rộng lớn của gia đình cô không khác cõi phạm hạnh, lúc nào cũng chuẩn mực oai nghi, những ngữ ngôn thiện pháp, hòa vào tâm thức của cô từ khi cô cất tiếng khóc chào đời cho đến tuổi trưởng thành.

Cô là một thiếu nữ nổi tiếng với dung mạo xinh đẹp, duyên dáng, đoan nghiêm, thùy mị, lễ phép. Cuộc hôn nhân của cô được tác duyên bởi hai người cha – hai vị trưởng giả thuộc hai quốc gia, họ môn đăng hộ đối về hình thức, tài sản, địa vị xã hội nhưng tâm hướng đạo của hai gia đình không tương đồng, đó chính là điều khiến cha cô phân vân, từ chối lời đề nghị cầu hôn từ phía nhà trai. Sau khi nghe Đức Thế Tôn dự báo tương lai tốt đẹp cuộc hôn nhân ấy, ông đã đồng ý gả cô cho gia đình trưởng giả Mãn Tài ở thành Mãn Phú, cách khá xa quốc thành Xá Vệ, nơi gia đình cô đang sống.

Đám cưới của cô tại gia đình nhà chồng được tổ chức theo phong tục tập quán của nước sở tại, với Lễ tiệc linh đình, thết đãi sáu ngàn Phạm Chí, mang trang phục dị kỳ bằng da, lông thú để lộ nửa người. Ngỡ ngàng trước cảnh tượng ấy, cô nhớ ngay tới những lời Đức Phật dạy:“Người biết xấu hổ thì mới làm được điều lành. Kẻ không biết xấu hổ chẳng khác gì loài cầm thú”. Và cô đã khẳng khái từ chối không lễ lạy các Phạm Chí theo nghi lễ, thẳng thắn phê phán họ là những người không biết hổ thẹn và tà kiến. Cô đã nhẹ nhàng thưa với bố chồng về những lời dạy của Đức Thế Tôn đối với phẩm chất đáng quý của người biết hổ thẹn, khiến ông ngạc nhiên nhưng vẫn buồn rầu vì không thể hiểu, vẫn coi thái độ của cô là sự ngang ngược, vô lễ. Trong khoảnh khắc ấy, cô thấy thương ông bố chồng, thương cho mọi người trong gia tộc bên chồng, thương người dân ở nơi đây vì sự vô minh không hiểu đạo nên có hành xử đáng tiếc và cô đã thầm ước mong Đức Phật xuất hiện để giúp họ xua đi bóng tối của những tư tưởng tà kiến đang ngự trị trong quốc gia này. 

Là người trong cuộc, bản thân cô thấy hổ thẹn vì cô luôn hiểu sâu sắc giáo lý của Đức phật về tâm tàm quý, đây chính là nền tảng của giới luật giúp con người giữ gìn giới hạnh trọn vẹn, là nhân tố cho mọi thiện pháp và là sức mạnh cho con người tiến đến chân lý tối thượng, nên cô đã xác quyết hành vi theo trái tim và lý trí của người con Phật, kiên quyết không lễ lạy ngoại đạo cho dù họ là ai.   

Là một thiếu nữ đang độ tuổi trăng tròn, vừa bước chân tới nơi đất khách quê người, phải chứng kiến những lễ nghi không đúng với những gì mà cô được học và biết thể hiện được chính kiến của mình, cho thấy rằng cô là một người có bản lĩnh vững vàng, thực hành hạnh vô úy hợp thời, dám đấu tranh trước những sai trái của người khác, tuyệt đối tôn kính Tam bảo và luôn ghi nhớ để thực hành những lời Đức Phật dạy, đó chính là phẩm chất thật đáng trân quý, không dễ có được ở người nữ cư sĩ mới qua tuổi niên thiếu…

Phẩm chất đó của cô đã được một Phạm Chí từ nơi xa tới khen ngợi và tạo nhân duyên cho cô được thỉnh mời Đức Thế Tôn tới Thành Mãn Phú để thuyết giảng giáo pháp tối thượng, theo lời đề nghị của người cha chồng. Với tâm thành kính tha thiết hướng về Kỳ viên Tinh Xá quê nhà, Đức Thế Tôn đã hiểu được tâm nguyện của cô, Ngài lãnh đạo Tăng đoàn xuất hiện ở Thành Mãn Phú với những cảnh tượng thù thắng về năng lực và tư thế đầy oai nghiêm, đạo hạnh của những bậc Thánh Tăng, khiến dân toàn thành cũng như gia đình Trưởng giả Mãn Tài hết sức ngạc nhiên, bội phục.

Thắng duyên đã tới, tại thành Mãn Phú, Đức Thế Tôn khai thị cho các thành viên của gia đình trưởng giả Mãn Tài cùng vô số nhân dân trong thành về giới luận, thí luận, luận sinh thiên, về những thứ dơ xấu, bất tịnh… để khai mở tâm ý cho họ,  Ngài giảng cặn kẽ về Tứ Diệu đế, ngay sau đó, mọi người đều chứng được pháp nhãn thanh tịnh và đồng lòng xin được quy y Tam bảo, thọ trì ngũ giới.

Cũng tại đây, Đức Phật đã tán thán công đức của Tiểu thư Tu-ma-đề, giải thích lý do cô xuất hiện ở thành Mãn Phú, xuất phát từ thệ nguyện cao cả từ quá khứ, mong muốn giúp người dân ở nơi đây hiểu, thực hành giáo pháp của Đức Phật để có được đời sống an lạc thực sự. Với họ; cô từng là thiện tri thức, cùng nhau thực hiện nhiều Phật sự và cùng có những thệ nguyện gắn bó sắt son. Sự xuất hiện của cô trên cuộc đời và trong thành Mãn Phú là thực hiện sứ mệnh thiêng liêng, hộ trì chánh pháp, tuyên dương chánh pháp, muốn cho chánh pháp đến được với tất cả mọi người nên cô đã phát nguyện nỗ lực tu tập, tinh tấn tu tập và lập hạnh nguyện cao cả. Tâm nguyện chân thành đó của cô đã thành hiện thực nhiệm mầu trước sự chứng minh của Đức Thế Tôn và toàn thể hội chúng.

Hình ảnh của nữ cư sĩ Tu-ma-đề chính là minh chứng sống động về tâm nguyện chân chánh của người học Phật và nỗ lực thực hành chánh pháp. Cô là niềm tự hào của gia đình Ngài Cấp Cô Độc và của quốc thành Xá Vệ thời đó. Cô chính là tấm gương về tâm thành kính đối với Tam bảo, tinh thần vô úy xuất phát từ tâm thiết tha giúp mọi người đến với Phật Pháp để có hạnh phúc tối thượng.

Học tập nữ Cư sĩ Tu-ma-đề, chúng ta xác quyết hơn nữa lòng tin sâu Tam bảo, có niềm tin sâu sắc, bất động vào Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, từ đó tăng trưởng thiện tâm, biết hổ thẹn, sợ hãi trước những xấu ác, tha thứ, bao dung trước những lầm lỗi của người khác; nỗ lực, tinh tấn trong học và thực hành giáo lý của Đức Phật, làm tròn bổn phận của người con Phật ở mọi nơi, mọi lúc trong thực hiện hiếu đạo với cha mẹ, với thầy dẫn đạo, với anh chị em, với cộng đồng, xã hội.

Học tập về tinh thần dũng cảm của cư sĩ Tu-ma-đề, chúng ta thực tập hạnh vô úy, không sợ hãi trước những nghịch cảnh, thẳng thắn phê phán những điều sai trái, bảo vệ đến cùng những điều đúng đắn. Vận dụng trí tuệ, hiểu biết và chấp nhận sự biến dịch vô thường của thế giới, vạn pháp, bình thản trước những biến đổi, không có tâm lý sợ hãi, chủ động các giải pháp khắc phục. Đồng thời, dùng sức mạnh của tâm yêu thương, tạo ra những năng lực tích cực để chuyển hóa những nghịch cảnh ấy.

Và nữa, ai đó trong chúng ta đã thầm phát nguyện mục đích lớn lao vì Đạo pháp, vì lợi ích cộng đồng, hãy kiên định, nỗ lực tinh cần, tỉnh thức trong thực hành hạnh nguyện ở mọi lúc, mọi hoàn cảnh, chắc chắn tâm nguyện tốt lành ấy sẽ cát tường viên mãn.

Phật tử Anh Trung

Cẩn ghi