Nam mô A Di Đà Phật. Kính bạch Thầy! Thời gian qua, sau mỗi bài học con đều liên tưởng tới vầng mây lớn giăng bủa trên không trung và một trận mưa xối xuống cánh rừng, bao cây cối lớn nhỏ được thấm nhuần những giọt nước trong lành để sinh trưởng, đơm bông […]

Nam mô A Di Đà Phật.

Kính bạch Thầy!

Thời gian qua, sau mỗi bài học con đều liên tưởng tới vầng mây lớn giăng bủa trên không trung và một trận mưa xối xuống cánh rừng, bao cây cối lớn nhỏ được thấm nhuần những giọt nước trong lành để sinh trưởng, đơm bông kết trái. Lớp học của chúng con cũng như lùm rừng ấy, chúng con đã được thụ hưởng những dòng pháp vũ ngọt mát và con là một cụm cây cỏ nhỏ bé nhất trong đó.

Cảm xúc chân thành của Phật tử Lâm Lâm qua bài viết Lời tâm tình cũng chính là cảm xúc của tất cả chúng con trong lớp sau mỗi thời Pháp Thầy truyền dạy. Bài giảng về Hạnh nguyện của ngài Địa Tạng Bồ-tát tuần vừa rồi, Thầy đã giúp chúng con hiểu sâu sắc về tâm, về hành trạng, về nguyện hạnh của một vị Bồ-tát lớn, có nhân duyên sâu dày với tất cả chúng sính ở cõi Ta-bà, được Đức Thế Tôn ngợi ca và phó chúc khi Ngài còn tại thế.

Trong sự nghiệp hành đạo, các Bồ-tát luôn gần gũi chúng sinh với hạnh nguyện mênh mông, các Ngài lấy lục độ vạn hạnh là pháp hành, lấy nỗi khổ của chúng sinh làm động lực thúc đẩy cho mọi dấn thân phụng sự, lấy sự an lạc giải thoát của chúng sinh làm quả chứng. Hành trạng của Bồ-tát Địa Tạng cũng như thế và rộng, sâu hơn thế. Từ khi phát tâm tu hành, Ngài đã trải qua vô lượng kiếp với vô lượng công đức, đạt tới trí tuệ của một bác giác ngộ, nhưng với đại nguyện nếu chưa độ hết chúng sinh trong sáu đường thì Ngài chưa thành Phật nên đền nay Ngài vẫn là đại Bồ-tát.

Ngài luôn thi hiện là một vị Bồ-tát với tâm trong sáng, kiên cố, rộng lớn, bao dung, an nhẫn. Danh xưng của Ngài gắn liền với hạnh nguyện sâu dày và những cảnh giới mà Ngài hóa độ “An lặng bất động như đại địa, vắng lặng sâu kín như kho tàng”. Trước mọi sự thay đổi, Ngài vẫn an nhẫn, tự tại, sâu thẳm bên trong luôn ẩn chứa kho báu vô giá, kho báu của trí tuệ đức năng và đó là biểu trưng của chân tâm nhiệm màu, vi diệu, là nơi nương tựa của vạn pháp, chúng sinh.

Với đại bi tâm, Ngài thấu hiểu, thương xót nỗi khổ của chúng sinh ở các cảnh giới, đặc biệt là cảnh giới địa ngục và nguyện cứu họ thoắt khỏi nơi đó bằng giáo pháp thậm thâm vi diệu của Đức Phật về tứ diệu đế và thập nhị nhân duyên, nhằm khơi nguồn tuệ giác cho chúng sính, giúp chúng sinh bừng tỏa, tỏ ngộ, tự rời xa biển nghiệp khổ đau.

Ngài cứu vớt, hoá độ chúng sinh bằng thệ nguyện sâu nặng:

Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật

Chúng sinh độ tận, phương chứng Bồ-đề”.

Hình ảnh của Ngài qua các câu chuyện tiền kiếp, khi là Trưởng giả, khi là Bà La môn nữ, lúc là một vị Vua, lúc là một người con gái hiếu kính, dù là ai Ngài đều phát nguyện độ hết tất cả chúng sinh, cho thấy hạnh nguyện của Ngài sáng ngời tinh thần hiếu đạo và cứu giúp chúng sinh. Ngài không chỉ cứu độ cha mẹ mình mà phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh đang chịu cực hình ở cảnh giới địa ngục vì qua quán chiều, Ngài thấy tất cả chúng sinh đều là lục thân quyến thuộc của nhau từ nhiều đời nhiều kiếp, họ đang đau khổ như nhau, đang mong cầu thoát khổ như nhau. Ngài cứu độ trên tinh thần bình đẳng, không phân biệt, không ràng buộc thân sơ. Đó chính là tinh thần báo hiếu tối thượng của hạnh nguyện lớn lao.

Đã từng ở nơi mà chúng sinh đang trải qua, nên khi vượt ra khỏi, Ngài hiểu được mọi nỗi khổ, càng thương xót, gần gũi, bảo bọc, tìm mọi cách giáo hoá, dẫn dắt chúng sinh ra khỏi cảnh giới tối tăm, kể cả những chúng sinh cang cường khó độ. Chúng sinh thì vô lượng vô biên, Ngài phải phân thân ra nhiều cảnh giới để hoá độ mà không màng tới khó khăn, vất vả, nhọc nhằn, càng thấy hạnh nguyện của Ngài thật thênh thang, sâu rộng.

Ngài chính là gương sáng nhất về hiếu đạo, về tình thần đại từ bi, đại nguyện, cống hiến để chúng ta học tập, thực hành: Học tập Ngài về hiếu đạo để luôn làm tròn trách nhiệm của người con đối với mẹ cha trong phụng dưỡng, chăm sóc; động viên cha mẹ biết, hiểu và tin sâu Tam bảo.

Học tập Ngài về hiếu đạo để luôn thực hiện trọn bổn phận của người con Phật đối với Thầy dẫn đạo của mình, nếu quan sát sẽ thấy, Thầy chính là một hoá thân của Bồ-tát Địa Tạng, luôn thầm lặng thực hành Phật sự, dạy dỗ, dìu dắt học trò không quản vất vả, nhọc nhằn và yêu thương hết mực.

Học tập Ngài về tâm đại hiếu để san trải tâm yêu thương đến hết thảy mọi người, thấy nỗi đau của mọi người như nỗi đau của chính mình, thấy mọi người khó khăn như chính mình khó khăn, niềm vui của mọi người chính là niềm vui của mình… từ đó quan tâm, sẻ chia, bằng tâm khiêm cung, chân thật, nhiệt thành trong mọi hoạt động. Từng bước thực hành luc độ để từng ngày trưởng dưỡng đạo tâm.

Học tập về hiếu đạo của Ngài để chúng ta thực hành tâm yêu thương đến mọi loài, trân quý, bảo vệ mạng sống cho mọi loài, giúp họ thoát khỏi địa ngục trần gian để vắng đi những tiếng kêu cứu ai oán, những giãy giụa vô vọng, bằng cách đoạn tuyệt sát sinh, phát nguyện ăn chay, phóng sinh để nuôi lớn lòng từ bi mỗi ngày.

Học tập Ngài về tâm an tịnh, như nhiên, sâu thẳm, chúng ta thực hành hạnh lắng nghe mọi âm thanh của cuộc đời, tĩnh tại, chánh niệm, chánh định trong mọi ý nghĩ, lời nói, việc làm; hiểu, xa dần tham ái, nóng giận, mê mờ… hướng tới tâm thanh tịnh, nhu nhuyến, thuần thiện để vững bước đi trên con đường học Đạo.

Chúng ta, bất kể ai, học và hành như vậy, siêng năng, rốt ráo, chắc chắn sẽ trở thành quyến thuộc rất gần của ngài Địa Tạng Bồ-tát và tất cả các vị Bồ-tát ở kiếp hiện tại và tương lai.

 

 (Cẩn ghi Phật tử Anh Trung)