Ba cõi như nhà lửa, cột trói từ vô thỷ nên muôn vạn pháp môn tu đều dạy hành giả giải thoát ra khỏi luân hồi.…

Sáng ngày 13/07/2024 (08/06/Giáp Thìn), Hòa thượng Thích Thông Không, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN Tỉnh BR-VT, đã quang lâm về Đại hùng bảo điện chùa Vạn Thiện để tiếp tục chia sẻ pháp thoại.

Trở lại với hội thứ nhất của bài phú “cư trần lạc đạo” trong tác phẩm Hai Quãng Đời Của Sơ Tổ Trúc Lâm. Hòa thượng giáo thọ đã trích dẫn nội dung cuốn sách và diễn giải sâu sắc ý nghĩa của câu kệ thứ năm cho tới câu kệ cuối của bài hội thứ nhất:

Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quí”

Châu ngọc là thứ mà người thế gian rất quý, châu ngọc có 2 nghĩa là: một là châu ngọc, hai là người đẹp. Tham ái là gốc luân hồi sanh tử, dù còn là một ông vua, ngài Trần Nhân Tông đã có được pháp thân thanh tịnh nên chẳng màng tới những thứ đẹp đẽ ấy, trong lòng chỉ duy trì sự sáng suốt để chăm lo việc nước. Hòa thượng liên hệ tới người xuất gia cần thường xuyên soi rọi chính mình rằng nguồn tham ái đã dừng chưa? Có động tâm trước sắc, gốc tham ái còn sâu trong tâm thức? Từ đó nhìn lại bản thân bằng trí tuệ để thấy được tính chất bất tịnh của thân xác huyễn mà dừng tham ái.

Thị phi tiếng lặng. Tâm Ngài đã lóng lặng nên trong lòng không vướng bận vào phải quấy. Hòa thượng khuyên đại chúng an cư ít sử dụng internet, trừ khi học tập nhiều vào lãnh vực học tập, tránh được những duyên điên đảo, tránh được loạn tâm không giúp cho đạo nghiệp, trí tuệ mà chỉ làm tăng trưởng thêm thị phi. Thay vào đó, đại chúng nên dành thời gian nhiếp niệm vào kinh kệ, an trú trong chánh niệm; ý thức được con đường giới, định đưa đến tuệ mới là sự nghiệp đích thực của người tu. Người tu phải giản trạch, xác định được mục đích lý tưởng để không uổng duyên lành khi gặp Phật pháp.

Ba cõi như nhà lửa, cột trói từ vô thỷ nên muôn vạn pháp môn tu đều dạy hành giả giải thoát ra khỏi luân hồi. Khi làm Thái tử, làm vua, làm Thái Thượng hoàng, trong ba giai đoạn ấy Ngài có tiêu chuẩn để an trú tâm trong đề mục “phản quan tự kỷ”, luôn phản tỉnh để sửa đổi thân miệng ý.

“…được dầu nghe yến thốt oanh ngâm: Tâm thị phi đã lặngnghe tiếng phi tần tâu rỗi phải quấy, nói lời thị phi nhưng ngài im lặng và tâm được rỗng rang, tự tại.

Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý”. Người thế gian thích đi chỗ này chỗ kia, thí dụ đi về miền Tây, xuống thuyền ngồi, ngắm dòng sông xanh, hoặc lên cao nguyên nhìn những ngọn núi biếc, những rặng thông gió thổi reo vi vu nghe rất thích. Biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm. Nhìn cây đào trổ hoa màu hồng, thấy cây liễu lá xanh, thấy cảnh đúng như thật của nó, thiên hạ trên thế gian này có mấy người được! Nhìn đóa hoa, cây liễu mà thấu đáo được lẽ thật của chúng thì thật ít có người tri âm, ít có người hiểu thấu.Người tu hành nhận thức được thế gian vô thường, khổ không, vô ngã, luôn tỉnh thức như vậy, thấy được đúng với sự thật các pháp thì ra ngoài sanh diệt, trở về với trí tuệ bát-nhã mới có thể làm pháp lữ, bạn trí cốt của Ngài.

Nguyệt bạc vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng. Liễu mềm hoa tốt, ngất quần sanh tuệ nhật sâm lâm”. Ở đây muốn nói nhìn mặt trăng sáng, bầu trời xanh, rồi nhìn xuống các dòng sông hay các mặt hồ thấy như có dòng thiền tràn khắp, lai láng mọi nơi. Người đạt được lý thiền, nhìn mọi cảnh như trời trong, trăng sáng, tất cả hiện tượng khác tràn đầy tươi đẹp. Đó là từ tâm thiền bủa khắp, chớ không có gì khác. Như vậy trí tuệ và tâm thiền trùm cả bầu trời và muôn vật. Đó là hai hình ảnh rất đẹp của người tu. Người đạt đạo thấy cái gì cũng thiền, cũng trí tuệ.

“Lo hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục.

Nhắm trường sanh, về thượng giới, thuốc thỏ còn đâm”.

Người nào muốn đổi xương của mình cho được nhẹ nhàng để có thể bay đi như các ông tiên cỡi hạc, thì phải uống linh đơn, thần dược của tiên. Ai muốn sống mãi mãi không chết và được lên thượng giới thì nên dùng thuốc thỏ tức thuốc tiên. Đây chỉ là truyền thuyết do tưởng tượng thôi. Hai câu này nhắc nhở hành giả phải trở về với cái thật, bỏ đi cái giả huyễn.

“Sách Dịch xem chơi, yêu tánh sáng yêu hơn châu báu;

Kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim”.

Sách Dịch tức là kinh Dịch của nhà Nho, Ngài chỉ xem chơi chớ không lấy đó làm chuẩn, làm mục đích chánh. Tuy xem sách Dịch, nhưng yêu tánh sáng (tánh Phật) của chính mình. Chỉ yêu tánh Phật hơn yêu châu báu. Thời đó các vua Trần chủ trương Tam giáo đồng nguyên, nên Ngài đọc hết các sách của Nho Lão, nhưng thật ra trong lòng chỉ thích Tánh giác của mình. Sách Dịch xem chơi, còn kinh Phật thì đọc rất thích. Vì thích kinh Phật nên trọng lòng rồi, chữ “rồi” có nghĩa là rỗi, trọng lòng rảnh rỗi thanh thản nhẹ nhàng của mình. Chữ “nữa” là hơn, trọng nữa hoàng kim nghĩa là trọng còn hơn vàng ròng. Câu này có nghĩa là đọc kinh Phật Ngài rất thích, quí tâm vô sự còn hơn là vàng ròng. Quãng thời gian ở ngôi vua và làm Thái thượng hoàng mà tâm đạo tràn trề. Đối với thiền, với trí tuệ. Ngài lúc nào cũng thấy nó trùm khắp.

Hòa thượng giáo thọ kết luận hội thứ nhất diễn tả tâm trạng của Phật hoàng Trần Nhân Tông trong thời gian trị quốc an dân mà hết lòng yêu đạo, quí đạo và sống được với đạo. Qua đây khuyến khích hành giả không chạy theo vọng động điên đảo ngoài thế gian khiến uổng phí thời gian trở về với kho tàng Như Lai tạng để tăng trưởng chánh niệm, tỉnh thức.