Theo dòng lịch sử, Phật giáo du nhập vào nước ta vào khoảng thế kỷ thứ III, cho đến nay gắn bó mật thiết với dân tộc qua lịch sử giữ nước từ thời Đinh, Lý, Trần đến Hậu Lê…
Sáng ngày 12/06/2024 (07/05/Giáp Thìn), Hòa thượng Thích Thông Không, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN Tỉnh BR-VT, đã quang lâm về Đại hùng bảo điện chùa Vạn Thiện để tiếp tục chia sẻ pháp thoại dựa trên tác phẩm của Trưởng lão Thiền sư Thích Thanh Từ: “Hai quãng đời của Sơ tổ Trúc Lâm”.
Theo dòng lịch sử, Phật giáo du nhập vào nước ta vào khoảng thế kỷ thứ III, cho đến nay gắn bó mật thiết với dân tộc qua lịch sử giữ nước từ thời Đinh, Lý, Trần đến Hậu Lê.
Giáo thọ sư đã kể đôi chút về Thiền sư Tông Diễn (còn gọi là Hòa thượng Cua), vị Tổ thứ hai của tông Tào Động, là một người giàu lòng hiếu đạo, đã cứu Phật pháp thoát khỏi ách nạn vào thời Hậu Lê; thuở ấy do bất mãn với đời sống tăng sĩ, vua Lê Hy Tôn sắc lệnh đuổi hết tăng ni vô rừng, Hòa thượng Cua thấy vậy đã dùng trí tuệ của mình thảo một bài sớ với nội dung đại khái là “đời Lý, Trần các vua vì hết sức coi trọng đạo Phật mà quốc gia thịnh trị, …nó như một viên ngọc quý của quốc gia”, vua Lê đọc xong thì hồi tâm hướng thiện, mời Hòa thượng Cua vào cung để chỉ bày đạo lý, Hòa thượng Cua đối đáp trôi chảy, lại còn thuyết pháp khiến cho vua tăng trưởng tín tâm, quy y Tam bảo, thu hồi sắc lệnh cấm Phật giáo. Nhìn lại quá trình gây tạo tội lỗi mà vua sám hối và cho thợ tạc bức tượng Phật ngồi trên lưng vua đặt trong chùa Hòe Nhai.
Phật giáo có nhiều cái hay là vậy, mầu nhiệm, có năng lực chuyển mê khai ngộ, biến khổ thành vui, khiến phàm phu trở thành Thánh nhân. Trong lịch sử Phật giáo, ví như vua A dục, vua A-xà-thế, nữ hoàng Võ Tắc Thiên đều là những vị quân vương tàn bạo một thời, nhưng sau đó nhờ ân điển Phật pháp mà được khai ngộ và hết lòng phụng sự, hộ trì Tam bảo. Dầu cảnh giới bên ngoài có phải quấy, phê phán, chỉ trích, lòng người chán nản,.v.v…giáo thọ sư khuyên chư hành giả chớ lo, mà an vui tu tập, chỉ cần chuyên tâm vào chín điều: văn tư tu; dựa trên kinh, luật, luận; thành tựu giới, định, tuệ. Nhớ lại thuở đức Phật tại thế, sự nghiệp hoằng dương chánh pháp khó khăn vô cùng, có những khi Phật và tăng đoàn bị hãm hại, vu khống v.v…nhưng Ngài khéo dùng định, tuệ để chuyển hóa, chuyển nguy thành an, biến uế độ thành tịnh độ.
Chư hành giả hãy tinh tấn, tự tin, bình thản tu tập và đem kinh luật luận ra dạy thì không ai bài bác được, miễn làm sao đừng đem cái hiểu, cái thấy ít ỏi của mình mà giảng nói thì bị rớt vào trong vòng đối đãi, có khen, có chê; hệt như trường hợp Phật đã dạy trong bài kinh Phạm Động; một đàng thì khen quá mức, một đàng thì chê hết lời. Người khen, kẻ chê ấy chỉ thấy bề ngoài mà không biết được thánh trí của Phật, các tỳ-kheo phải dùng trí tuệ để khách quan nhận định. Trách nhiệm của tăng sĩ là nắm được cương lĩnh ấy mà đi vào đời hoằng pháp, làm tròn nhân duyên, bổn phận, trách nhiệm đối với chúng sanh. Chư Tổ nói: “Y nơi kinh mà giải nghĩa thì oan cho ba đời chư Phật, rời bỏ kinh điển mà nói thì lạc vào tà thuyết của ma”, cho nên hành giả cần nói năng căn cứ theo lời Phật dạy, tương ưng với Tam pháp ấn mà thuyết giảng, đem đạo vào đời, hòa ánh sáng vào bụi bặm để bụi bặm thành ánh sáng là tinh thần trọng trách của Phật giáo Đại thừa; tự lợi và lợi tha, bố thí ủy lạo, gieo duyên chúng sanh để chúng sanh kết duyên với Tam bảo nhưng đừng mắc kẹt, vướng bận
Trở lại với tác phẩm “Hai Quãng đời của Sơ tổ Trúc Lâm, giáo thọ sư nhắc lại câu nói của Tuệ Trung Thượng sĩ trong bài học trước “phản quan tự kỷ bổn phận sự bất tùng tha đắc”.
Khai triển nội dung tác phẩm, giáo thọ sư kể về cuộc đời của Phật hoàng Trần Nhân Tông, đến 21 tuổi được truyền ngôi, Ngài từ nhỏ được giáo dưỡng bởi giáo lý nhà Phật, thọ trì 5 giới cấm mà giới đầu là không sát sanh. Gặp lúc nước nhà bị quân Nguyên xâm lấn, đối trước đại hùng binh của quân Mông Nguyên, việc vua canh cánh trong lòng là cầm quân đánh giặc sẽ phạm tội sát sanh, không nghe lời Phật dạy thì đọa lạc không biết khi nào ra khỏi. Nhờ diệu dụng của trí tuệ, nhờ câu nói của thiền sư Tuệ Trung Thượng sĩ làm kim chỉ nam trong suốt cuộc đời; lại thêm lời dạy thấm nhuần của ông nội là vua Trần Thái Tông “lấy ý dân làm ý mình, lấy cái muốn của dân làm ước muốn của mình, đừng quên nội điển”, bấy giờ Ngài nghĩ nếu tội thuộc định nghiệp thì phải hội đủ ba yếu tố thân, khẩu, ý cùng hợp tác chủ động tạo tội; trường hợp thế giặc mạnh, tàn bạo sát hại nhân dân, nên phải hành động, miễn là vua không có ý muốn chủ động dùng binh đao, chỉ có thân và khẩu buộc phải tạo tội vì bảo vệ chính nghĩa, sau này hồi tâm sám hối sẽ có thể chuyển nghiệp. Biện biệt rõ ràng đạo lý ấy, vua tập hợp tướng sĩ, mở hội nghị Bình Than hỏi ý, toàn thể tướng sĩ hô to “chiến”, lại trưng cầu ý kiến của quần chúng mà mở hội nghị Diên Hồng mời các bô lão để lấy ý kiến, họ đều đồng thanh hô “chiến”. Vậy là vua chiếu theo ý nguyện của quần chúng mà khởi binh bảo vệ bờ cõi, chứ không tự mình suy tư chủ quan. Nhờ vậy, sau khi chiến thắng, nước nhà được ổn định, Ngài rời ngôi vua, về núi Yên Tử tịnh tu phạm hành thành tâm sám hối lỗi xưa, chỉ trong 5 năm thì được khai ngộ. Đối với nhân sinh quan Phật pháp không cố chấp phải quấy, nghiệp cũng không cố định.
Người tu không biết trở về phản chiếu soi xét sẽ đánh mất duyên lành và lãng phí những tháng ngày tu tập, phóng ra ngoài nhiều làm sao biết rõ giới mình tịnh hay không, giới không có làm sao có định, cho nên hồi quan phản chiếu rất quan trọng, thường nhớ nghĩ chúng ta đã làm được bao nhiêu so với tâm nguyện “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”, cũng như nghĩ tới mục đích “xuất gia tu hành để làm gì?” thì hành giả sẽ có động lực vượt khỏi phiền não thế gian. Theo thống kê, mỗi năm có khoảng 20 vạn người về thăm Yên Tử non thiêng bởi nơi ấy có những bậc ngộ đạo thiền sư chân thật tu hành, nối truyền từ ngàn xưa.
Cuộc đời của Sơ tổ chỉ trụ thế 51 năm, mà để lại cho đời một tấm gương sáng. Ở đời lo việc triều chính, duy trì sự an ổn quốc gia, trọn vẹn bổn phận, hoàn thành trách nhiệm với dân với nước; khi về Yên Tử xuất gia tu hành, Ngài tìm đến Am Ngọa Vân hoang sơ hẻo lánh, dứt hẳn với đời, không dính líu thế sự triều đình, cắt duyên trần thế, chỉ một việc “hồi quang phản chiếu” tu đến viên mãn, đạo và đời đều thành tựu. Sau 5 năm, Ngài tỏ ngộ lý chân liền xuống núi hoằng dương Phật pháp, tạo dựng dòng thiền Trúc Lâm Việt Nam. Cuộc đời tu hành của Sơ tổ an bần thủ đạo, rất mực giản dị đơn sơ.
Qua buổi giảng lần thứ hai này, giáo thọ sư đã giảng giải kỹ lưỡng, định hướng cho hành giả an cư qua những câu chuyện thực tế và ý nghĩa về cuộc đời của Sơ tổ để trang bị những yếu tố cần thiết trên lộ trình tu học.