Sáng ngày 18/06/2025 (nhằm ngày 23/05/Ất Tỵ), Thượng Tọa Thích Thiện Thuận, Chủ hương kiêm Giám luật Hạ trường đã quang lâm Trí Thắng Đường chia sẻ thời Pháp thoại với chủ đề: “Đi tu” nhằm nhắc lại sơ tâm ban đầu khi xuất gia của chư hành giả, qua đó phản ánh một số […]

Sáng ngày 18/06/2025 (nhằm ngày 23/05/Ất Tỵ), Thượng Tọa Thích Thiện Thuận, Chủ hương kiêm Giám luật Hạ trường đã quang lâm Trí Thắng Đường chia sẻ thời Pháp thoại với chủ đề: “Đi tu” nhằm nhắc lại sơ tâm ban đầu khi xuất gia của chư hành giả, qua đó phản ánh một số thực tại cần lưu ý để mang sự an lạc, thanh tịnh hòa hợp cho chư Tăng trong mùa an cư kiết hạ này.

Trong cuộc sống hằng ngày khi chúng ta gặp lại bạn tu cũ sau nhiều năm xa cách thường hỏi thăm nhau sức khỏe, làm gì, ở đâu, tu cái gì? Có một điều bất ngờ là phần lớn những người được hỏi như vậy trả lời là thực ra tôi không biết mình đang làm gì, đang ở đâu và đang tu cái gì nữa! Nhiều người sau một thời gian tu học thì đi hoằng pháp, trụ trì, tham gia giảng dạy tại các trường Phật học, biên dịch kinh điển, tham gia các công tác Giáo hội, từ thiện, mở các khóa tu, đăng đàn giảng Pháp… Nhưng khi nhìn lại để trả lời cho ba câu hỏi trên thì mới thật sự suy nghĩ.

Ngày xưa khi mới thế phát xuất gia tâm nguyện ban đầu rất mạnh liệt. Đây là giai đoạn một người mới từ bỏ đời sống thế tục, gia nhập vào Tăng đoàn để tu học theo Giáo pháp của đức Phật. Sơ tâm rất trong sáng, thuần khiết, đầy nhiệt huyết và mong cầu giải thoát. Trong Thiền tông, sơ tâm thường được nhắc đến như một trạng thái tâm lý quan trọng “Sơ tâm tức thị Phật”. Đó cũng là tâm thành kính, tinh tấn và không vướng bận thế sự. Trong cuộc sống tu tập, giữ được sơ tâm là điều khó, vì theo thời gian, người tu có thể bị chi phối bởi phiền não, lười biếng hoặc mê đắm vào hình thức. Do đó, các bậc thầy thường nhắc nhở đệ tử đừng quên sơ tâm. Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật dạy: “Người xuất gia phải như con chim chỉ có đôi cánh, không mang theo gánh nặng thế tục”.

Thực tế hiện nay, chư Tăng Ni gánh trên vai nhiều trọng trách: xây dựng Giáo hội, hoằng pháp, từ thiện, truyền thông Phật giáo… khiến không ít người mỏi mệt mà đánh mất niềm vui thanh tịnh thuở ban đầu. Đặc biệt, trong thời đại công nghệ số, người tu đối diện với cả cơ hội lẫn thách thức: mạng xã hội mở ra không gian truyền thông mới, nhưng cũng dễ dẫn đến xao động, phân tâm nếu không khéo giữ chánh niệm. Thượng tọa nhấn mạnh: Tăng Ni hiện đại cần khéo léo ứng dụng công nghệ trong hoằng pháp như: Giảng pháp trực tuyến, chia sẻ pháp thoại trên các nền tảng số,… nhưng vẫn phải giữ giới luật, tránh rơi vào đời sống ảo và luôn lấy giải thoát làm kim chỉ nam. Sự hòa hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa công nghệ và tỉnh thức chính là bài toán người xuất gia hôm nay cần giải bằng trí tuệ và giới đức.

Qua đây, Thượng tọa cũng giới thiệu đến chư Tăng an cư tác phẩm: ”Tăng-già thời đức Phật” được Thượng tọa Thích Chơn Thiện biên soạn, tác phẩm nhằm giới thiệu một số tài liệu thông chứng và nhận định về Thánh hội của đức Bổn Sư từ lúc Ngài khởi sự chuyển Pháp luân cho đến lúc Ngài nhập Niết-bàn. Đức Phật và chư vị Tỳ-kheo đến từng nhà giảng pháp độ người trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Kinh ghi lại rất nhiều trường hợp đức Phật và các đệ tử của Ngài độ cho người nghèo, người bệnh, người hấp hối, người có tang, người gặp cảnh ngang trái,… Các Tôn giả Sàriputta, Moggallàna, Ananda, Punna…, hay các nữ Tôn giả Mahapajapati, Patacara… đều nổi danh là những vị thuyết pháp độ hàng ngàn người trở thành cư sĩ thuần thành hoặc những Tỳ-kheo chứng đắc Thánh quả. Toàn thể những điều mà các Ngài giảng dạy cho đông đảo quần chúng không phải là những lý thuyết, luận lý, phân tích suông mà là những phương cách cụ thể thoát khỏi khổ đau. Đây là những bằng chứng về tính chất thực tiễn, giáo dục, xã hội của Phật giáo, phủ nhận những luận điệu cho rằng Phật giáo là yếm thế, bi quan, xa rời quần chúng. Mục tiêu trước mắt của Tăng-già là xây dựng một xã hội gồm những người tại gia thuần thành, những tín đồ Phật giáo chân chính. 

Tác phẩm cũng chỉ ra một số những trường hợp các vị cư sĩ thuần thành hết lòng hộ trì Tăng-già trong cả một truyền thống Ấn Độ ủng hộ, cúng dường tất cả những tu sĩ đạo danh. Những nêu dẫn trên nhằm chứng tỏ Tăng-già đã thực sự đi vào lòng xã hội để giáo dục, dẫn đạo và nỗ lực xây dựng một xã hội giảm thiểu tối đa những kẻ khổ đau, thuận tiện cho việc thực hiện giải thoát bằng giáo lý của đức Phật. Tăng-già thực sự được trọng vọng, được hộ trì, đã thực sự mang lại lợi ích cho xã hội. Mối liên hệ giữa Tăng-già với xã hội là thiết thực, chặt chẽ. Dĩ nhiên, ngoại trừ một số trường hợp các Tỳ-kheo sau khi thọ nhận Phật pháp, đã vào rừng ẩn tu, sống biệt cư trong các chòi lá, trong hang động… sinh sống bằng cách tự trồng trọt, phần lớn các Tỳ-kheo khác đều sinh sống do sự cúng dường của các Phật tử tại gia bằng vật dụng, thực phẩm, thuốc men hoặc cả đến chỗ ở. Sự đóng góp của quần chúng cư sĩ cũng rất to lớn, đủ để tạo nên một mối liên hệ bền vững lâu dài.

Tiếp đến Thượng tọa đọc đoạn kinh Sala với nội dun như sau: “Những Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, mới tu, xuất gia chưa bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này; những Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, cần phải được khích lệ (samādapetabbā), cần phải được hướng dẫn, cần phải được an trú, tu tập Bốn niệm xứ. Thế nào là bốn? Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm, để có chánh trí như thật đối với thân. Hãy trú, quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm để có chánh trí như thật đối với các thọ. Hãy trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm, để có chánh trí như thật đối với tâm. Hãy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm, để có chánh trí như thật đối với các pháp. Này các Tỷ-kheo, có những Tỷ-kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách. Các vị ấy trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhứt tâm để liễu tri về thân. Các vị ấy trú, quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhứt tâm để liễu tri về thọ. Các vị ấy trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhứt tâm để liễu tri về tâm. Các vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhứt tâm để liễu tri về pháp”. Đọc lại đoạn kinh này chúng ta không thể không suy nghĩ lại đời sống tu hành của bản thân mình.

Tiếp đến, Thượng tọa trình bày một vài điểm cốt yếu trong kinh lõi cây, đem lời dạy của Đức Thế Tôn đến chư hành giả. Tiểu Kinh Dụ Lõi Cây (Cūḷasāropama Sutta) là một bài kinh quan trọng trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), số 30. Đức Phật dạy về mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh và cảnh báo nguy cơ dừng lại ở những thành tựu tâm linh trung gian mà bỏ qua mục tiêu cuối cùng là giải thoát. Dụ cây có lõi Đức Phật so sánh giáo pháp như một cái cây, gồm; Vỏ ngoài (tướng bên ngoài) là giới luật, hình thức tu tập. Vỏ trong (lợi ích tạm thời) là định tâm, hỷ lạc do thiền định. Lõi cây (mục đích tối thượng) là giải thoát khỏi tham ái, chấp thủ, đạt Niết-bàn. Người tu chỉ dừng ở vỏ ngoài hoặc vỏ trong mà không đạt lõi cây thì chưa hoàn thành mục đích. Phê phán sự dính mắc vào pháp thứ yếu. Đức Phật cảnh tỉnh những người tự mãn với các thành tựu như đắc thiền, thần thông, tri kiến thanh tịnh nhưng vẫn còn tham ái, kiêu mạn, chưa đoạn tận gốc khổ đau. Một người tìm lõi cây nhưng lại mang về vỏ cây, tưởng đó là lõi (ám chỉ tu sai mục đích).

Trong một hình ảnh đầy cảm động tại trường hạ, Thượng tọa nhắc đến một vị tu sĩ lớn tuổi, chống nạng mang theo ghế nhỏ để tham gia thời khóa – như một bài học sống động về tinh tấn vượt qua giới hạn thân thể. Người trẻ ngày nay cần học hạnh ấy để nuôi lớn chí nguyện xuất trần.

“Nhứt bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du

Kỳ vi sanh tử sự

Thuyết pháp độ xuân thu”

Đây là bài kệ Thượng tọa Đức Minh – Phó thiền chủ hạ trường thường đọc mỗi lần ăn cơm quá đường. Nhắn nhủ chư hành giả sống đời đơn giản, đạm bạc. An nhiên tự tại mà dấn thân trên con đường hoàng pháp lợi sanh không bị vướng mắc.

Cuối buổi chia sẽ Thượng tọa nhấn mạnh mục tiêu tối hậu là Niết-bàn, giải thoát chân chính phải là sự đoạn diệt tham sân si, không còn chấp thủ ngã và pháp. Người tu phải vượt qua mọi trạng thái tâm linh tạm thời (dù cao siêu) để đạt vô thủ trước Niết-bàn. Sự ưu việt của Phật pháp khi hướng đến giải thoát rốt ráo, khác với các giáo pháp khác chỉ dừng ở phước báo hoặc cảnh giới hữu hạn. Tránh lầm đường không đắm chìm trong hỷ lạc thiền định hay thần thông mà quên mục tiêu dứt khổ. Tu tập đúng hướng, giữ gìn Giới, Định, Tuệ nhưng phải hướng đến đoạn trừ vô minh, ái dục. Khiêm tốn, không tự mãn với những thành tựu bước đầu trên đường tu và nhắc nhở người con Phật luôn tỉnh táo, xác định rõ lõi cây của đời sống tu tập là giải thoát giác ngộ, không lạc vào những vỏ cây hấp dẫn nhưng tạm bợ. Như HT Tuyên Hóa từng dạy: “Phật sự trọng đại nhất của người tu là tu tập để chứng đắc”.