Khi đức Phật đi đến nước Kosala hoằng hóa, ngài đã ghé xứ Kesaputta, người dân bộ tộc Kalama đã đón tiếp và hỏi Ngài rằng: “Bạch Thế Tôn, có một số nhà sư và Bà La Môn, đến thăm Kesaputta. Họ chỉ giới thiệu, trình bày và giải thích những giáo lý của họ; còn những giáo lý của người khác thì bị họ khinh thường, chửi rủa và chỉ trích thậm tệ…Bạch Thế Tôn, chúng con có sự nghi ngờ, có sự không chắc chắn liên quan đến những vị nầy. Các nhà sư và Bà La Môn nầy, ai nói thật và ai nói dối đây?”…
Sáng ngày 23/06/2024 (18/05/Giáp Thìn), Thượng tọa Thích Viên Trí, Phó Trưởng ban kiêm Chánh Thư ký ban Giáo dục Phật giáo Trung Ương GHPGVN, Phó viện trưởng kiêm Trưởng khoa Triết học Phật giáo tại Học viện Phật giáo TP. HCM đã quang lâm Đại hùng bửu điện chùa Vạn Thiện để chia sẻ pháp thoại tới chư hành giả an cư.
Hoằng pháp truyền bá chánh pháp là sứ mệnh thiêng liêng và cực kỳ khó khăn vì không phải lúc nào cũng được hoan nghênh, đón nhận. Giáo lý đạo Phật đối với chúng ta là vi diệu, tối thượng; nhưng đối với tín đồ thuộc tôn giáo, tín ngưỡng khác lại chưa hẳn là như thế.
Giáo thọ sư đã kể một số câu chuyện để chỉ ra rằng thuở đức Phật còn tại thế, Ngài là bậc lưỡng túc tôn mà trên chặng đường hoằng hóa phải đối mặt với sự chê trách, quần chúng mất niềm tin với những câu hỏi đặt ra cho vấn đề phạm hạnh. Đức Phật đã từng bị những tổ chức tôn giáo tín ngưỡng bản địa và ngoại lai, do không hài lòng với sự lớn mạnh của Phật pháp, tìm nhiều cách bôi nhọ, chống đối làm suy giảm uy tín của tăng đoàn. Một lần Tôn giả Xá Lợi Phất đã trả lời Tôn giả A-nan: Trước những lo lắng của tăng chúng, sự hoang mang của Phật tử, cách tốt nhất là mỗi tăng sĩ cần hướng nội, quay về với bản tâm, tinh tấn tu tập, tăng trưởng giới định tuệ, tự giải thoát và đem đến pháp giải thoát cho những người hữu duyên.
Khi đức Phật đi đến nước Kosala hoằng hóa, ngài đã ghé xứ Kesaputta, người dân bộ tộc Kalama đã đón tiếp và hỏi Ngài rằng: “Bạch Thế Tôn, có một số nhà sư và Bà La Môn, đến thăm Kesaputta. Họ chỉ giới thiệu, trình bày và giải thích những giáo lý của họ; còn những giáo lý của người khác thì bị họ khinh thường, chửi rủa và chỉ trích thậm tệ…Bạch Thế Tôn, chúng con có sự nghi ngờ, có sự không chắc chắn liên quan đến những vị nầy. Các nhà sư và Bà La Môn nầy, ai nói thật và ai nói dối đây?”
Phật chỉ cho người dân Kalama rằng những chuyện họ đắn đo, suy nghĩ, ngờ vực là có cơ sở; nhưng hãy đừng vội chấp nhận dựa trên những điều sau đây: “những gì mình đã được nghe đi nghe lại nhiều lần; hoặc dựa trên truyền thống; hoặc dựa trên tin đồn; hoặc dựa trên kinh sách; hoặc dựa trên sự phỏng đoán; hoặc dựa trên một sự thật đã được chấp nhận; hoặc dựa trên sự xét đoán bề ngoài; hoặc dựa trên một thành kiến; hoặc dựa trên một người xem là có khả năng; hoặc dựa trên một nhà sư là thầy của mình. Chỉ khi chính quý vị hiểu biết điều sau đây: “Những điều nầy là xấu; những điều nầy bị chê trách; những điều nầy bị lên án bởi người trí; qua sự thực hiện và quan sát, những điều nầy dẫn đến sự đau khổ và bệnh hoạn, thì quý vị nên bác bỏ chúng… Những điều nầy là tốt; những điều nầy thì không bị chê trách; những điều nầy được khen ngợi bởi người khôn ngoan; qua sự thực hiện và quan sát, những điều nầy dẫn đến sự hạnh phúc và lợi lạc, thì quý vị nên làm và chấp nhận chúng”.
Trích kinh Trung bộ, Kinh Ưu Ba Ly (Upàli sutta) bài kinh số 56, Thượng tọa giáo thọ cho biết ban đầu phái khổ hạnh Nigantha đưa ra quan điểm thân tội, khẩu tội và ý tội và cho rằng thân tội là tối trọng để tác thành ác nghiệp. Trong khi giáo lý đức Phật thì dạy rằng ý nghiệp là quan trọng, ý là nguồn gốc phát sinh các ác nghiệp hoặc thiện nghiệp; như trong kinh Pháp cú có dạy: “nếu với ý ô nhiễm, nói năng hay hành động, quả báo sẽ theo ta như xe theo vật kéo, …”;Việc làm có tác ý đưa đến nghiệp quả, việc không tác ý, không mong muốn thì không đưa đến nghiệp quả. Vừa qua đã có một số cách giảng dạy không phù hợp với giáo pháp được lan truyền trên mạng khiến cho Phật tử lúng túng trong vấn đề nhân quả và nghiệp báo.
Gia chủ Ưu-ba-ly đã đại diện cho phái khổ hạnh Nigantha đến trước đức Phật gặng hỏi nhiều vấn đề và được đức Phật cảm hóa. Nhưng người xuất gia chúng ta hãy học theo gương hạnh của Phật với sự độ lượng và bao dung vô bờ, Ngài không gượng ép hay gọi mời gia chủ Ưu-ba-ly hộ trì cho tăng đoàn, thể hiện qua những câu nói “Này gia chủ, hãy chín chắn suy tư. Chín chắn suy tư là tốt đẹp với những người trứ danh như ông”;… “Này Gia chủ, đã từ lâu gia đình ông như là giếng nước mưa nguồn cho các người Nigaṇṭha. Hãy cúng dường các món ăn cho những ai đến với ông!”…; trong khi những giáo phái khác tranh nhau để có được Ưu-ba-ly vì ông là người trứ danh có tầm ảnh hưởng lớn trong xã hội lúc bấy giờ.
Xưa kia hai vị thầy lỗi lạc là A-la-lam và Uất-đầu-lam-phất sau khi thấy được sự tu học vượt bậc của Sa-môn Gotama đã ngỏ ý mời Ngài ở lại giáo đoàn của họ cùng lãnh đạo đồ chúng, tuy vậy Ngài đã khéo từ chối và kiên quyết rằng mình đã từ bỏ đời sống gia đình không phải mong đạt đến vô sở hữu xứ định hay phi phi tưởng xứ định hoặc để cầu đạt được một chức vụ lãnh đạo nào mà chỉ vì lý tưởng giải thoát cao thượng, tìm ra con đường chơn chánh cho giúp nhân loại thoát khỏi khổ đau. Qua đây người xuất gia nên giác tỉnh, đừng thỏa mãn với sự cung kính, cúng dường mà phải biết thọ dụng làm sao cho đúng nghĩa để giải thoát, xuất gia là từng bước tiến lên phương trời cao rộng chứ không phải khiến mình trở thành người tầm thường.
Giáo thọ sư tán thán Hòa thượng chứng minh tuy đã niên cao lạp trưởng vẫn ngày ngày trang nghiêm ngồi trong giảng đường an cư Vạn Thiện để lắng nghe những bài giảng của chư vị giáo thọ; đối với thân, khẩu, ý nghiêm tịnh và bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi của Hòa thượng và những vị Tôn túc trong Hạ trường chính là bài pháp về thân giáo quý giá cho hàng hậu học noi theo. Chính năm xưa dọc miền lưu vực sông Hằng, dù đức Phật đã chứng tam minh, lục thông, đầy đủ sự biến hóa nhưng vẫn ngày ngày bộ hành, du hóa khắp nơi gieo mầm từ bi, trí tuệ và mang đến an lạc cho mọi người.
Mỗi hành giả cần học cách hành xử trước khen chê; bởi cuộc đời tu sĩ không phải lúc nào cũng được khen ngợi, ngưỡng mộ. Trong các bài kinh đức Phật dạy dù là người nói nhiều, kẻ ít nói, người nhu hòa, hay khiêm hạ, người không nói gì cũng đều là đối tượng để dư luận khen chê, đó là bản chất của cuộc đời; vì tham dục, lợi lạc, sự ganh tỵ và thù hằn khiến người đời tỏ thái độ như vậy. Một người tu sĩ chân chính phải có thái độ phi phàm như voi lâm trận sẵn sàng hứng chịu mọi cung tên, giáo mác và mọi lời phỉ báng để củng cố đạo tâm. Do vậy hành giả khi dấn thân làm Phật sự cần luôn chánh niệm, soi rọi lại chính mình, tự chủ được cảm xúc thì không dao động bởi khen chê. Khi có ai đó khen ngợi bằng những lời mỹ miều tỏ sự cung kính, tôn trọng thì hành giả chớ có vội vui mừng, nếu sanh tâm vui mừng là đang kẹt trong khoái lạc, ái nhiễm; gặp sự chê trách chớ nên ôm ấp phiền não, sanh tâm oán hận vì oán hận là vô trí, tự hại chính mình. Hãy đừng lệ thuộc vào khen chê mà biến khen chê làm chất liệu để hoàn thiện bản thân.
Người tu hành luôn biết khiêm cung, kính trọng người trên, hòa nhã với kẻ dưới, sống có đức hạnh, duy trì lục hòa, tôn trọng lẫn nhau và giữ giới nghiêm túc cũng như đặt niềm tin kiên cố vào Tam bảo, mới không đi ngược lại lý tưởng xuất gia của mình.
