Sáng ngày 03/06/2024 (27/04/Giáp Thìn), Trưởng lão Hòa thượng Thích Nhuận Hải, Trụ trì chùa Hương Tích, đã quang lâm về giảng đường chùa Vạn Thiện để tiếp tục giảng dạy về tác phẩm “Chứng đạo ca” bài số 16, 17 của Đại sư Huyền Giác. Theo Hòa thượng chia sẻ, người xuất gia phải […]

Sáng ngày 03/06/2024 (27/04/Giáp Thìn), Trưởng lão Hòa thượng Thích Nhuận Hải, Trụ trì chùa Hương Tích, đã quang lâm về giảng đường chùa Vạn Thiện để tiếp tục giảng dạy về tác phẩm “Chứng đạo ca” bài số 16, 17 của Đại sư Huyền Giác.

Theo Hòa thượng chia sẻ, người xuất gia phải có cái nhìn thấu suốt để đường tu không bị chướng ngại, việc tối cần thiết là phải nương vào giáo pháp của chư Phật, chư Tổ. Muốn đi trên một con đường cần tìm hiểu rõ con đường đó có bao nhiêu chông gai, hầm hố chướng ngại thì mới thượng lộ bình an, cũng vậy muốn không bị ngoại cảnh tác động làm lung lạc ý chí tu hành thì phải am tường giáo pháp. Khi đối trước sự việc, hiện tượng gì đó đòi hỏi phải có cái nhìn đúng đắn khách quan.Bất cứ nhận thức nào của phàm phu chúng ta cũng có bản ngã xen vào, nhìn nhận chủ quan, vì cái thấy cái nghe đa phần được xây dựng trên nền tảng của vô minh; chỉ có Bậc giác ngộ nhìn cuộc đời về muôn sự muôn vật mới đúng như thật; pháp như thế nào, sự thật như thế nào các Ngài đều “như thị kiến, như thị thuyết”. Nếu nhìn bằng cặp mắt giác ngộ, mọi sự đều bình đẳng, “nhất như” không có khác biệt, sở dĩ do qua lăng kính của vọng thức vô minh ấy mà có sai biệt.

Hòa thượng đã đề cập tới “tứ vô sở úy” là bốn điều tự tín, không sợ hãi của Phật và Bồ-tát thể hiện trong lúc thuyết pháp. Đầu tiên là Nhất thiết trí vô sở úy, trí tuệ Phật thấy rõ đúng như thật không sai một mảy may, nên ngài không sợ hãi khi đứng giữa quần sanh mà trình bày và giải đáp chân lý giác ngộ của Ngài. Tâm đã sạch, trí đã lập nên suốt 49 năm Ngài đi thuyết pháp dọc lưu vực sông Hằng. Còn chúng ta kiến giải đa phần sai lầm nên mới có cơ sở cho người khác chỉ trích, phê phán và bài bác. lời nói của chúng ta không hoàn toàn là lời của chân lý nên gặp chuyện trái nghịch chúng ta sinh ra buồn phiền, không được tự tại.
Hòa thượng giáo thọ khẳng định, i nào có Phật nơi đó có ma, vì đây là hai thế giới đối lập, một đàng đưa chúng sanh đến an lạc giải thoát, một đàng dẫn vào trụy lạc, sanh tử khổ đau, hai lực lượng này luôn đối nghịch dù ở không gian, thời gian nào chứ không phải chỉ mới đây. Cho nên Phật dạy đối với chê bai, chỉ trích tốt xấu, người học Phật không cần quan tâm mà sanh phiền não. Nhiều khi chúng ta làm đúng chân lý, mà đi ngược lại tư tưởng của người khác thì họ phê phán, đó là điều đương nhiên thôi không có gì phải buồn phiền, nói tốt hay xấu cũng “mô Phật thì có chuyện gì đâu, họ nói tốt mà mình vốn tâm địa xấu thì cũng chẳng khá hơn, họ nói xấu mà tâm địa mình hiền lương thì cũng chẳng thể xấu được.

Hành giả học Phật hãy tập nhìn người khác ở phương diện tốt, nếu nhìn vào khía cạnh xấu của người sẽ sanh rất nhiều phiền não. Bất cứ người nào cũng có hai mặt thiện và ác, dù là cực ác sở dĩ là do năng lực xấu ác của họ biểu hiện mạnh mẽ, nhưng con người vỗn sẵn tính thiện lành, hễ hết ác thì họ trở lại hiền lành. Tất cả tập khí xấu lắng rồi thì Phật tánh hiện tiền thôi. Đó là Lậu tận vô sở uý, nghĩa là Phật đã dứt sạch hết tất cả mọi phiền não, không có sự sợ hãi từ các nạn bên ngoài.
Phật nói “pháp nhiễm ô chắc chắn gây trở ngại sự tu tập”. Khi nói như vậy, Phật không hề lo sợ sự bắt bẻ hay gạn hỏi của bất cứ ai. Điều này gọi là Thuyết chướng đạo vô sở uý.Những việc chướng ngại cho tu tập của người xuất gia cần phải biết để tránh, vì thế kinh, luật, luận là điều tối quan trọng, là kim chỉ nam cho người hành giả tiến tu từ phàm phu tới giác ngộ. Chúng ta chớ nghĩ chỉ cần tu không cần học, đó là quan điểm sai lầm, vì không am tường nội điển sẽ dễ hành sai, làm sai. Ví như việc trực nhận mặt trăng, không nên nhầm lẫn ngón tay chỉ mặt trăng là mặt trăng, thì không bị trường hợp mê chồng thêm mê. Chư vị Tổ sư là những người đã giác ngộ, khi nghe pháp ngữ của các Ngài mà chấp mắc vào câu chữ, thì như cầm dao hai lưỡi, các Ngài nói trên phương tiện để độ sanh, phải dùng trí tuệ của mình nhận thức đâu đúng đâu sai, cái nào cần làm, cái nào không nên làm. Vậy dựa vào đâu để phân định đúng sai, nên dựa vào Thánh giáo lượng – lời chỉ dạy của đức Phật trong kinh điển.
Yếu tố thứ tư là Thuyết tận khổ đạo vô sở uý, bởi Phật tuyên thuyết đạo xuất ly, chỉ bày con đường thoát ly sinh tử, chỉ bày phương pháp tu tập để thoát ly khổ đau, mà không sợ hãi điều gì. Bởi vì tu là sửa, sửa từ bốn cơ sở phát sinh thiện ác đã nêu, gặp tư tưởng xấu ác vừa khởi lên phải liền dẹp bỏ, để ý niệm xấu ác không có cơ hội làm tổn thương chúng ta, đạo pháp, mà sa đọa vào con đường tội lỗi. Như một gợn sóng lăn tăn xuất hiện thì trăm ngàn đợt sóng tiếp nối ập vào bờ, một niệm xấu mà manh nha rồi thì trăm ngàn niệm ác thi nhau tàn phá tâm chúng ta. Các pháp vốn do duyên sanh, giả hợp mà thành, nhưng chúng ta cho là thật nên gặp đẹp sanh ái (ưa thích), gặp xấu sanh tắng (ghét bỏ), thương ghét luôn tác động tới tâm thái của chúng ta. Thương ghét là 2 loại phiền não căn bản, hễ có thương thì có ghét. Lục tổ Huệ Năng đã từng khai thị “thương ghét chảng để lòng, nằm thẳng đôi chân nghỉ” chỉ trạng thái an lạc không còn lo ngại gì nữa.

Hòa thượng một lần nữa khai diễn ý nghĩa của hai câu kệHương tượng chạy dài hết liệt uy, Thiên long lặng ngóng lòng hoan hỷ”. Oai dũng như voi chúa mà còn sợ hãi chạy trốn khi nghe tiếng sư tử rống, thiên long chỉ cho thiên long bát bộ hộ thần Phật pháp thường đến các pháp hội, đạo tràng để hộ trì, các Ngài lắng nghe hết để nhận chân đạo lý với lòng tịnh thính, thành kính lắng nghe chánh pháp.
Bài học cho chúng ta, đó là nếu không chịu lắng nghe, trú tâm vào kinh giáo thì không thể thâm nhập và liễu ngộ tâm ý của Phật. Kinh là định của Phật, tụng kinh là thực hành thiền định, khi tụng kinh phải nhiếp niệm, từng câu từng chữ, buộc tâm vào lời kinh, ko để tán loạn, mới có định, có định thì có tuệ để giải trừ vô minh phiền não. Không nhất thiết phải tụng nhiều loại kinh, thiết nghĩ chỉ cần nương theo tấm gương tu hành của người xưa mà trì tụng một bộ kinh đến suốt cuộc đời đến khi thông suốt thì hiểu hết chân lý vi diệu của Phật pháp, vì tất cả pháp đều dung thông, đạo giải thoát tuy được diễn bày bằng nhiều phương tiện khác nhau nhưng chung quy chỉ có một mà thôi.