Thiền tiểu thừa cũng lấy tứ thiền bát định làm bước sơ khởi, sau đó tiến lên diệt thọ tưởng định bằng cách ngưng tất cả hoạt động của thức thứ 6 (ý thức) và thức thứ 7 (mạt na thức), chỉ còn duy trì hoạt động của thức thứ 8 (A-lại-da thức). Nói đến Đại thừa thiền chỉ cho trạng thái vắng lặng của nội tâm mà thường hằng chiếu soi vạn hữu, chính trạng thái tĩnh lặng đó phát ra diệu dụng của ý, từ định sanh huệ là như vậy. Ở cấp độ thiền Đại thừa giữa hai phương diện tịch chiếu phải song đôi với nhau….
Sáng ngày 24/06/2024 (19/05/Giáp Thìn), Trưởng lão Hòa thượng Thích Nhuận Hải, Trụ trì chùa Hương Tích đã quang lâm về giảng đường chùa Vạn Thiện giảng dạy về tác phẩm “Chứng đạo ca” của Đại sư Huyền Giác.
Trong buổi học an cư hôm nay, Hòa thượng tiếp tục giảng về bài Chứng đạo ca số 18, xoay quanh nội dung ý nghĩa, phong cách của Đại thừa thiền.
“Hành diệc thiền, tọa diệc thiền
Ngữ mặc động tĩnh thể an nhiên”
Dịch nghĩa:“Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền; nói im động tĩnh thân an nhiên”
Theo như giáo thọ sư, thiền có thể được chia ra gồm thế gian thiền, ngoại đạo thiền, tiểu thừa thiền và đại thừa thiền, dựa theo trình độ tu chứng mà phân ra cấp bậc như vậy. Thế gian thiền chỉ cho trạng thái trú tâm vào một vấn đề nào đó, chẳng hạn người thợ vẽ trú tâm nét vẽ, càng trú tâm thì sản phẩm họ làm ra càng đẹp, càng sống động…Thiền ngoại đạo gồm có Tứ thiền và bát định là kết quả của công phu tu tập thiền định nói chung. Nói rõ hơn, là dù tu tập theo phương pháp nào nếu có đường lối rõ ràng, có công phu thì đều có thể đạt đến Tứ thiền và bát định; nhưng đây cũng chỉ là Thế gian pháp mà thôi.
Thiền tiểu thừa cũng lấy tứ thiền bát định làm bước sơ khởi, sau đó tiến lên diệt thọ tưởng định bằng cách ngưng tất cả hoạt động của thức thứ 6 (ý thức) và thức thứ 7 (mạt na thức), chỉ còn duy trì hoạt động của thức thứ 8 (A-lại-da thức). Nói đến Đại thừa thiền chỉ cho trạng thái vắng lặng của nội tâm mà thường hằng chiếu soi vạn hữu, chính trạng thái tĩnh lặng đó phát ra diệu dụng của ý, từ định sanh huệ là như vậy. Ở cấp độ thiền Đại thừa giữa hai phương diện tịch chiếu phải song đôi với nhau.
Hòa thượng giáo thọ đã dẫn lời Lục tổ Huệ Năng trong Pháp bảo đàn kinh có nói: nếu giữ tâm vắng lặng không còn tư tưởng, chỉ giữ hoàn toàn tuyệt đối sự vắng lặng như thế cũng là đang bị trói cột bởi trạng thái vắng lặng, hành giả không thoát ra được mà ưa thích an trú với cảnh tịch diệt đó; còn Đại thừa thiền đối với cảnh duyên (lục trần) không bị vướng mắc gọi là thiền, trong tâm không loạn động gọi là định. Cái thấy phàm tục của chúng ta thường khởi những phân biệt, chấp trước khi thấy cảnh, chạy đuổi theo cảnh, sống với vọng tâm. Trong khi đó, cái thấy của bậc giác ngộ là cái thấy không phân biệt năng – sở, không có chấp trước nên tâm được thanh tịnh, cảnh đến thì thấy, nghe rõ ràng; cảnh đi thì tâm vắng lặng.
Phong cách Đại thừa thiền dưới cái nhìn giác ngộ của Đại sư Huyền Giác là đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, tất cả hoạt động của thân đều trong trạng thái thiền. Hơn nữa, tọa thiền là phương tiện giúp hành giả dễ dàng định tâm hơn tư thế nằm, đứng hoặc đi. Dù ở trình độ cấp bậc thiền nào cũng lấy những phương tiện này làm cơ sở.
Đối với hành giả chỉ quán chiếu trên một đối tượng nào đó, hoặc một câu nói trong kinh Phật dạy hay ngồi tĩnh lặng chú tâm vào hơi thở, ở giai đoạn thiền này hễ bước ra khỏi cảnh giới và quay về tiếp xúc với thế giới hiện thực thì tất cả mọi trạng thái tĩnh lặng của nội tâm trước đó sẽ tan biến. Cho nên nhà thiền thường có những thoại đầu, công án để loại trừ tập khí phiền não nhiễm ô trong tâm, thực hiện mỗi ngày như vậy để phát sanh tuệ giác, kiến tánh thành Phật.
Cái thấy, nghe ở sát na ban đầu thường là chân tâm, không có năng sở, hay còn gọi là “tri kiến vô kiến”, ở nơi tâm không phân biệt mà thấy biết vạn pháp một cách rõ ràng, nhưng tâm phàm phu qua sát na thứ hai thì bị vọng thức chen vào mà khởi phân biệt. Ý thức được điều này hành giả cần chánh niệm, tỉnh giác để duy trì tâm mình ở trạng thái sáng suốt, không khởi phân biệt khi đối duyên xúc cảnh, trong mỗi bước chân, trong từng hơi thở…, chính nơi đó tự tánh Phật hiện tiền. Còn khởi tâm động niệm thì Phật tánh ẩn mất, trần lao phiền não ồ ạt khởi nên, suy cho cùng dù hành giả tu pháp môn nào thì chánh niệm là điều kiện tối cần thiết để loại bỏ tất cả vọng tưởng tập khí phiền não trong tâm chúng ta.
“Túng ngộ phong đao thường thản thản
Giả nhiêu độc dược dã nhàn nhàn
Ngã sư đắc kiến Nhiên Đăng Phật
Đa kiếp tằng vi nhẫn nhục tiên”
Bậc giác ngộ một khi đã an trú nơi chân tâm rồi, vào được thiền định, thân tâm nhất như thì dù cảnh có tác động đến thân cũng không bị cảnh làm cho khởi tâm động niệm; thí như bị tác động bởi dao cắt, thuốc độc…vẫn an nhiên, đối với sanh tử coi như mây nước thoáng qua. Tiền thân các vị Phật trong vô lượng kiếp cũng đã từng an trú trong đại định để thực hành nhẫn nhục, chẳng tiếc thân mạng mà cầu vô thượng đạo; đối với các vị thiền sư ngộ đạo cũng vậy, các Ngài không còn bận lòng về thân, tự tại an trú nơi chân tâm, dù nghịch cảnh đến cũng chẳng mảy may lo sợ.
Qua bài ca chứng đạo số 18, hành giả thấy rõ phong cách thiền đại thừa không trú trọng ngồi yên một chỗ để quán tâm mà cho thấy hoạt dụng từ nơi chơn tâm mới thực sự quan trọng, trong cảnh tịch tĩnh mà thường sống động, trong định mà hay phát sanh tuệ giải thoát, đạt đến chỗ tự tại trước mọi sự trên đời.
“Kỷ hồi tử, kỷ hồi sanh
Sanh tử du du vô định chi!”
Dịch là: “Mấy hồi tử, mấy hồi sanh; Sanh tử mơ màng không định dứt!”
Sanh tử là vấn đề nhức nhối của một kiếp người, bởi vì ai cũng một lần đến với cuộc đời và cũng phải một lần ra đi; người phàm phu không hay biết nhân quả ba đời, cứ mải miết làm ăn và hưởng thụ để rồi nuối tiếc vì đã đánh đổi không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt tạo ra vật chất để có được niềm vui giả tạm, chính bởi ước muốn hưởng thụ ấy mà gây ra không biết bao nhiêu khổ đau cho cuộc đời này; người có của cải vật chất càng nhiều lại càng sống trong sự bất an, lo lắng, sợ mất, sợ chết; cho đến khi tâm hết tạo nghiệp thì người và nghiệp mới chấm dứt. Hay nói cách khác chỉ khi ở ngay chỗ pháp sanh diệt có thể nhận ra Pháp không sanh diệt, thì vấn đề sanh tử không ý nghĩa gì hết.
Hòa thượng giáo thọ đề cập tới bốn đặc tính vô sanh của tất cả pháp là không tự sanh, không tha sanh, không cộng sanh, không vô nhân duyên sanh. Nhìn tổng quan thì mọi sự vật trên cuộc đời này đều là tánh vô sanh, trong cái vô sanh không có sanh cũng không có diệt.