Hòa thượng khuyên hành giả: khi giới định huệ chưa đạt đến sự thanh tịnh mà sớm đi vào đời hóa độ chúng sanh thì không những chẳng độ được chúng sanh mà còn có thể bị đánh mất đạo tâm…
Sáng ngày 22/07/2024 (17/06/Giáp Thìn), Trưởng lão Hòa thượng Thích Nhuận Hải đã quang lâm giảng đường an cư chùa Vạn Thiện để tiếp tục giảng dạy về bài ca Chứng Đạo số 23.
Bắt đầu buổi học hạ hôm nay, Hòa thượng giáo thọ đã giải thích ý nghĩa của “chánh niệm”: Chánh niệm có nghĩa là người tu hành luôn an trú với tâm mình hay nói cách khác là trở về với chân tâm trong nhất cử nhất động. Chánh niệm không chỉ là chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác mà bao hàm cả không nghĩ thiện nghĩ ác. Khi hành giả còn có ý niệm rằng mình không nghĩ thiện hoặc không nghĩ ác thì đó cũng là vọng niệm. Chánh niệm là trạng thái mà hành giả hoàn toàn vắng lặng mọi ý niệm.
Mọi sự vật hiện tượng trên cuộc đời sở dĩ có đối với người khởi tâm động niệm, dựa trên ý thức phân biệt chấp trước mà hiện hữu. Còn những ai luôn an trú trong chân tâm thường trụ vắng lặng thì đối với các danh sắc như thế nào thì thấy y như thế, như thật tri, như thật kiến. Dưới ánh sáng của trí tuệ bát nhã thì tất cả muôn sự muôn vật đều hiển hiện một cách chân thành. Hòa thượng chỉ rõ giữa thánh và phàm chỉ khác biệt ở nhận thức cảnh duyên đúng hay không đúng chân tướng sự thật. Vì thấy sai lầm nên phàm phu sinh ra ái nhiễm, khởi lên tham sân si, dẫn đến tìm cầu nắm giữ gọi là thủ, thủ duyên hữu là nguyên nhân đưa đến tái sinh trong đời sau.
Hòa thượng giáo thọ bắt đầu đi vào phân tích những câu kệ của bài ca chứng đạo số 23:
“Giang nguyệt chiếu, tòng phong xuy
Vĩnh dạ thanh tiêu hà sở vi?”
Dịch nghĩa:
“sông trăng chiếu, tùng gió lay
Cảnh đêm thanh trăng sáng: Đã làm gì?”
Hai câu đầu ngài Huyền Giác mô tả cảnh đêm trăng thanh vắng trên dòng sông, bao nhiêu ánh trăng nhấp nhô sanh diệt dụ cho tất cả hiện tượng sanh diệt của tất cả pháp. Mặt trăng vốn dĩ là một nhưng khi chiếu xuống gặp phải những đợt sóng nhấp nhô chao đảo tạo ra muôn ngàn bóng trăng. Bóng trăng dưới nước vốn là hư vọng không thật mà chỉ là từ nơi bản thể chân tâm theo duyên biểu hiện ra. Qua đây, ngài Huyền Giác nhắc nhở chúng ta phải có sự nhận thức chính xác tất cả mọi hiện tượng trong cuộc đời, để không bị hiện tượng và cảnh trần đánh lừa dẫn mình vào con đường tội lỗi khổ đau mà trầm luân sanh tử.
“Phật tánh giới châu tâm địa ấn
Vụ lộ vân hà thể thượng y”.
Dịch nghĩa:“Phật tánh, giới châu in sâu vào tâm địa.
Lấy ráng sương làm áo khoác lên mình”
Hai câu này ngụ ý là tu hành không phải để thưởng thức cảnh trăng thanh gió mát mà mượn cảnh để nhìn thấu được tâm địa của mình. Nhân đây, Hòa thượng giáo thọ giảng về “giới châu” biểu thị cho tam vô lậu học: “giới, định, tuệ”. Hòa thượng giáo thọ dẫn lời Lục Tổ Huệ Năng khai thị Giới – Định – Huệ của tự tánh: “Tâm địa vô phi Tự Tánh Giới, Tâm địa vô si Tự Tánh Huệ, Tâm địa vô loạn Tự Tánh Định”.
Có thể hiểu là khi tâm không có lỗi lầm đó là giới của tự tánh, tâm đối cảnh duyên không loạn là định của tự tánh, tâm đối với cảnh duyên không có si mê biết đúng như thật là tuệ của tự tánh. Như vậy tự tánh vốn đầy đủ giới, định, tuệ. Nhưng vì mê nên mới bị phiền não che lấp tạo ra tội lỗi. Đồng thời, Hòa thượng cũng khai triển về giới, định, tuệ trên phương diện sự tướng qua lời khai thị của ngài Thần Tú dạy cho các đệ tử: “những điều ác chớ làm gọi là Giới, những điều lành phụng hành gọi là Định, ý căn tự trong sạch gọi là Tuệ”. Từ giới định huệ của sự tướng hành giả tu tập thanh tịnh đạt đến vô lậu thì trở về với giới định huệ của tự tánh, khi ấy tất cả trần lao phiền não không còn ý nghĩa gì cả.
Hòa thượng khuyên hành giả: khi giới định huệ chưa đạt đến sự thanh tịnh mà sớm đi vào đời hóa độ chúng sanh thì không những chẳng độ được chúng sanh mà còn có thể bị đánh mất đạo tâm.
Qua bài ca số 23, Thiền sư Huyền Giác đã mô tả cái thấy của người chứng đạo với sự duy trì chánh niệm trong mọi thời. Nhờ yếu tố chánh niệm mà tất cả mọi sự thịnh suy, đắc thất, vô thường của cuộc đời không thể làm lung lạc được đạo tâm của bậc giác ngộ.
