Sáng ngày 04/06/2024 (28/04/Giáp Thìn), Thượng tọa Thích Tâm Nguyên, Trụ trì chùa Vô Trụ, phó Hóa chủ Hạ trường đã quang lâm về Đại hùng bửu điện chùa Vạn Thiện để chia sẻ pháp thoại với chư hành giả an cư. Mở đầu buổi học, Thượng tọa đã gần gũi chia sẻ về cuộc […]

Sáng ngày 04/06/2024 (28/04/Giáp Thìn), Thượng tọa Thích Tâm Nguyên, Trụ trì chùa Vô Trụ, phó Hóa chủ Hạ trường đã quang lâm về Đại hùng bửu điện chùa Vạn Thiện để chia sẻ pháp thoại với chư hành giả an cư.

Mở đầu buổi học, Thượng tọa đã gần gũi chia sẻ về cuộc đời hành đạo của mình trong suốt quãng thời gian 25 năm từ lúc xuất gia cho tới nay. Kể sơ lược về hành trình từ khi sinh ra tại đất nước Canada, đi học tốt nghiệp và đi làm, xuất gia ở Na-uy, thọ Đại giới ở Đức và học Phật pháp ở Trung Quốc 8 năm, sau đó có nhân duyên dừng chân tại vùng non thiêng Thị Vải để cất am tịnh tâm tu tập. Trải qua nhiều gian truân trên bước đường tu, Thượng tọa đã vượt qua tất cả để an trú trong niềm vui của kinh kệ, ngày ngày nghiêm tầm giáo lý Phật-đà. Thượng tọa cho biết dù đã đặt chân đến nhiều nơi trên thế giới, tiếp xúc với các hệ phái khác nhau, nhưng khi trở về Việt Nam mới thực sự cảm nhận được chư Tăng Ni thuộc các hệ phái Bắc tông và Nam tông sống trong tinh thần lục hòa, rất đáng khen ngợi.

Qua những chuyến đi hoằng hóa trong những năm qua, Thượng tọa cảm nhận được sâu sắc những hoàn cảnh éo le của kiếp người ở vùng sâu vùng xa, hẻo lánh. Đồng thời trực nhận ra rằng trong mối quan hệ giữa người với người cũng nhiều khác biệt. Trong nhà thiền có câu “Xuân sắc vô cao hạ. Hoa chi tự đoản trường”, dịch là: “Sắc xuân không cao thấp. Cành hoa có ngắn dài”, Đất trời bao bọc chở che muôn vật, sắc xuân là tổng thể hợp nhất của muôn hoa lá, nhưng xét riêng mỗi loài hoa lại có những đặc trưng riêng, hoàn cảnh mỗi con người cũng chẳng đồng vì nghiệp nhân đã từng gieo tạo trong quá khứ, vì thế không cần so sánh hơn thua, chỉ cần sống làm sao cho hài hòa, cũng không cần ra sức để bắt chước cuộc đời của ai khác. Chỉ cần khiêm cung, sống hết lòng là cách để chúng ta thương lấy chính mình, có đường lối tu tập rõ ràng, tự mình phấn đấu làm hòn đảo cho chính mình nương tựa.

Một lối sống giản dị, chân thật và đơn thuần sẽ trực tiếp phá vỡ đi những ngụy tạo, tính toán, khiến chúng ta không khởi lên vọng tâm này, ý niệm kia. Giáo thọ sư chia sẻ thêm có những lần nản lòng muốn trở về Canada nhưng rồi lại nghĩ đây là nguồn cội, quê hương xứ sở của mình, vượt qua những vọng tâm để sống thật lòng với chính mình đã giúp Thượng tọa an trụ nơi mảnh đất thị vải non thiêng này suốt 15 năm qua. Trên bước đường tu tập, luôn phản tỉnh nhìn lại chính bản thân mình, tự biết và nhủ lòng sao không thay đổi gì nhiều trong tu tập, tại sao tham sân si và luyến chấp vẫn còn ngự trị trong tâm, đó là ý chí giúp Thượng tọa tiến tu.

Thầy giáo thọ dẫn lời Khổng tử: “người đời nói mười điều thì hết chín điều dở, chỉ còn lại một điều hay, thì tôi khen điều hay của người đó”. Lấy một ví dụ hôm nọ có một vị Sư đến thăm viếng một ngôi chùa, bước vào Chánh điện là lúc mặt trời sắp lặn, bên ngoài cảnh trời chiều hoàng hôn rất đẹp, nhưng khi nhìn qua cửa sổ vị Sư này chỉ để ý lớp bụi bám trên mép cửa sổ, liền khởi tâm xem thường người chùa ấy và rồi không nhận ra được sự mầu nhiệm của cuộc đời đang hiện hữu bên ngoài khung cửa mà chỉ thấy những điều xấu dở. “Khởi tâm tức thị vọng, bất trừ vọng tưởng bất cầu chơn”. Khi thấy biết rõ ràng về cái hay, cái dở của người khác, mà không phán xét, không riêu rao, chỉ thường quay về nghĩ lỗi của mình và tu sửa thân tâm thì nơi ấy chúng ta có an lạc.

Nói về niềm tin với Phật pháp, Thượng tọa liên hệ tới tác phẩm Đại Trí Độ Luận của Bồ-tát Long Thọ : “Phật pháp đại hải, tín vi năng nhập” nghĩa là “Biển cả Phật pháp, do lòng tin có thể vào”. Có được niềm tin vững chắc, không lay động với Phật, Pháp, Tăng, chúng ta sẽ có đủ nghị lực để vượt qua mọi thử thách trong cuộc đời. Bởi lẽ chúng ta rất dễ bị tác động bởi hoàn cảnh xung quanh rồi ảnh hưởng lên tâm này, để cảnh làm chủ mình thì chẳng có được an lạc. Khi nội tâm có niềm tin kiên cố với Tam bảo rồi thì cảnh trần nào lung lạc được tâm.

Nhớ lại lời của Lục tổ Huệ Năng khi trả lời câu hỏi của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn: “con người tuy có phân biệt kẻ Nam, người Bắc, nhưng Phật tánh vốn bình đẳng, không có Nam Bắc, thân người của con và thân cao quý của Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh thì không khác” Câu nói trên đã xác huyết được niềm tin với Tam bảo không lay chuyển của Lục tổ. “Trực tâm là đạo tràng”, chúng ta sống chân thật, đối với mọi sự vừa xảy đến với mình, liền đem cái tâm rỗng rang mà ngay lập tức đối đãi hết lòng, không xen tạp vọng tưởng, tính toán thì nơi đó là trực tâm vậy.

Giữa cõi trần giả tạm phù hư, vô thường là định luật ngàn đời không thể tránh, sanh lão bệnh tử có ai thoát được, mùa đông lạnh lẽo cũng chỉ dài ba tháng. Vẫn là mỗi ngày yên bình và khung cảnh tĩnh lặng mà vì tâm dậy sóng nên cảnh mới xôn xao. Sống thật lòng, an hòa, biết khoan dung, kính trên nhường dưới một cách rõ ràng thì nơi tu học của mình là chốn an lành, tự chúng ta cũng gặt hái được thành quả tốt đẹp.