Sat, 07 / 2022 9:28 PM | Thiện Hưng

Sáng ngày 30/07/2022, TT. Thích Tâm Ngộ – Thiền chủ Trường hạ, Trụ trì Chùa Quảng Phương quang lâm giảng đường Trí Thắng trường hạ Vạn Thiện giảng dạy, trình bày tiếp về 20 điều khó trong kinh “Tứ Thập Nhị Chương”, từ điều khó thứ MƯỜI đến điều khó thứ MƯỜI BỐN cho chư hành giả an cư.

“Đối cảnh tâm không lay động là khó

Học rộng, nghiên cứu nhiều là khó

Trừ diệt cống cao ngã mạn là khó

Không khinh khi người chưa học là khó

Thực hành tâm bình đẳng là khó”.

Cảnh là khách thể bị nhận thức, và tâm là chủ thể nhận thức. Tâm là ý thức phân biệt, khi Tâm nhận thức cảnh tức ở đệ nhị sát na, đã có mặt của ý thức. Tâm ở đệ nhất sát na là trực giác, là nguyên kiến, là hiện lượng, nó như là một trạng thái yên lặng vô ký, chỉ hiện hữu chưa có phân tích. Đệ nhất sát na tâm được gọi là Vô tâm. Vô tâm không có nghĩa là mất tri giác, mà là một thứ tri giác viên mãn, không thiên kiến, trú chấp. Vì thế, vô tâm là cửa ngõ nhập đạo giải thoát, là cửa thiền:

“Tìm trâu nên phỏng dấu,

Học đạo quý Vô tâm,

Dấu còn, tìm trâu được,

Vô tâm, đạo dễ vào”.

Do đó, muốn giải thoát, chúng ta phải thường xuyên sống vô tâm, vô phân biệt. Học rộng, nghiên cứu nhiều là tìm hiểu, lãnh hội, mổ xẻ vấn đề đến nơi đến chốn. Nó thuộc về văn huệ và tư huệ. Một nhà bác học mà thiếu đi hai yếu tố này hẳn không thể là bác học được. Một học sinh, sinh viên muốn đỗ đạt cao phải chăm chỉ mài kinh nấu sử. Cũng vậy, người học đạo giải thoát, tầm cầu chân lý Đức Phật không thể lơ là học thuật nội minh. Như vậy cũng đủ thấy sự học quý giá và lợi ích đến chừng nào! Chính nhờ sự học rộng nghiên cứu nhiều, mới có thể nhận chân đâu là chân lý, là phi chân lý, là chính, là tà, là con đường nên đi, không nên đi. Học rộng nghiên cứu nhiều nghiễm nhiên trở thành kim chỉ nam hành động trong cuộc sống. Nó còn là tấm bản đồ, là hành trang cần thiết cho mọi lãnh vực. Do đó, chúng ta cần phải trau dồi kiến thức, nâng cao tính nhân văn và trí tuệ của mình hầu đem lại những thành công tốt đẹp.


Người ngã mạn là người đặt bản ngã của mình lên trên hết. Nó là biểu hiện của tâm hiếu thắng, kiêu ngạo, cống cao, thiếu nhã nhặn và nhún nhường, khiêm cung. Người ngã mạn thường song hành với các tâm lý định kiến, bảo thủ, độc đoán. Ngoài việc làm, quan điểm, cách nhìn… của họ ra, họ cho rằng không có một ai là đúng, là chân lý. Theo Duy Thức học, ngã mạn là một trong bốn tâm sở thuộc tính của Mạt na thức dố là chấp ngã thức. Chính vì yếu tố chấp mắc này trói buộc sai sử chúng ta trong vòng tròn nghiệp nhân ái, thủ, hữu, triền miên sinh tử. Ngã mạn sự sống là cậy sống lâu mà làm việc bất thiện về tam nghiệp. Cả ba loại ngã mạn này đều làm cho con người đắm nhiễm, sa đọa vào các ác nghiệp: “Say sưa trong ngã mạn tuổi trẻ, ngã mạn không bệnh, ngã mạn sự sống, kẻ vô văn phàm phu sẽ làm ác về thân, làm ác về lời, và làm ác về ý. Do vậy, sau khi thân hoại mạng chung sa đọa ác thú.” Vì ngã mạn là chấp thủ, là cống cao, là chấp nhất, nên người lìa ngã mạn sẽ thoát ly mọi ràng buộc, hệ lụy: “Này các Tỳ kheo, ai đoạn trừ tâm ngã mạn, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho không còn hiện hữu lại, người ấy là bậc thánh đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không còn bất cứ một hệ lụy nào.” Do đó, dứt trừ tâm ngã mạn không chỉ là việc khó làm mà còn là việc rất đáng trân trọng.
         

Nếu học rộng nghiên cứu nhiều mà có tâm ngã mạn thì sự học rộng nghiên cứu nhiều ấy vô ích, vì người ấy chỉ là một học giả cao ngạo, chỉ thích chỉ trích, bình phẩm người khác mà không xây dựng đóng góp gì nhiều cho việc giáo dục. Nếu học rộng nghiên cứu nhiều mà không có tâm ngã mạn thì kiến thức đó sẽ được truyền bá rộng rãi, làm lợi lạc cho nhiều người, xã hội thật sự tiến bộ chỉ cần nhiều mẫu người này.

Qua điều thứ 13 này, Đức Phật dạy không khinh người chưa học là một điều khó. Lời dạy này còn hàm ý nói kẻ tài cao thường có nhược điểm “mục hạ vô nhân” và khinh khi người ít học. Đây là cách khuyên chúng ta càng học cao càng khiêm cung thì giá trị càng lớn. Tri thức mà không đạo đức là nguy hiểm hơn những kẻ ác độc. Ở câu nói trên, chúng ta thấy tác hại rất lớn của những thứ tri thức ác độc và bác học đa văn mà kiêu ngạo khinh thị mọi người cũng thuộc vào loại này.

      

Chỉ với Phật giáo, người ta mới tìm được chân giá trị của chủ trương bình đẳng. Bình đẳng quan Phật giáo bao gồm nhiều chiều kích, xô lệch mọi thiên kiến kỳ thị lâu đời của những quan niệm hủ tục xa xưa. Giá trị bình đẳng cao nhất trong Phật giáo là Phật tánh, ai cũng có khả năng trở thành con người tuệ giác viên mãn, thù thắng, và nói chung là cả muôn loài, ngoại trừ giống vô tình, vô thức. Bình đẳng quan thứ ba trong Phật giáo vừa gắn liền với lịch sử thế giới là xóa bỏ giai cấp, phủ nhận mọi kỳ thị, phân chia, phân biệt giữa con người với con người và giữa con người với con vật. Theo Phật giáo, mọi con người phải có giá trị ngang nhau khi người ta hoàn thiện đạo đức. Chỉ có đạo đức mới phân định chính xác giá trị nhân phẩm con người. Giai cấp, địa vị, sự sang trọng, quyền uy, thế lực… tất cả những thứ này Đức Phật đều phủ nhận để đề cao bình đẳng.
Chỉ với ba quan điểm bình đẳng này cũng đủ chứng minh sự siêu việt của Phật giáo trong việc đề cao nhân bản và đem lại cho con người sự bình đẳng tuyệt đối. Do đó, thực hành bình đẳng là một điều vô cùng khó, nhất là đối với những người còn nặng ngã mạn, ngã ái, ngã kiến.

Ban TT-TT hạ trường

Bài viết cùng chuyên mục