Vấn đề phản quan tự kỷ (nhìn lại chính mình) thực ra không phải là việc khó. Ngay trong đời sống hằng ngày lúc ăn, lúc uống, lúc ngủ nghỉ, sinh hoạt… đều được kiểm thúc và phản tỉnh rằng đối với tất cả oai nghi, tế hạnh nơi bản thân có chánh niệm, tỉnh thức hay chưa. Hành giả quay lưng với trần cảnh để trở về nhận lại tánh giác chính mình thì gọi là “bối trần hiệp giác”, còn quên mất bản tâm, thấy biết mê mờ theo trần cảnh thì gọi là “bối giác hiệp trần”…

Sáng ngày 29/06/2024 (24/05/Giáp Thìn), Hòa thượng Thích Thông Không, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN Tỉnh BR-VT, đã quang lâm về Đại hùng bảo điện chùa Vạn Thiện để tiếp tục chia sẻ về cuộc đời và sự nghiệp giác ngộ của Phật hoàng Trần Nhân Tông qua tác phẩm “Hai quãng đời của Sơ tổ Trúc Lâm”.

Trở lại với lớp học an cư, Hòa thượng giáo thọ đã nhắc lại một câu nói quan trọng là hành trang của Sơ tổ: “phản quan tự kỷ bản phận sự bất tùng tha đắc”, trong quãng đời từ khi Ngài đăng quang làm Thái tử, tới lúc lên làm vua, trở thành Thái thượng hoàng và xuất ly làm một thiền sư núi Yên tử cho đến ngày thành Sơ tổ Trúc Lâm Việt Nam.

Vấn đề phản quan tự kỷ (nhìn lại chính mình) thực ra không phải là việc khó. Ngay trong đời sống hằng ngày lúc ăn, lúc uống, lúc ngủ nghỉ, sinh hoạt… đều được kiểm thúc và phản tỉnh rằng đối với tất cả oai nghi, tế hạnh nơi bản thân có chánh niệm, tỉnh thức hay chưa. Hành giả quay lưng với trần cảnh để trở về nhận lại tánh giác chính mình thì gọi là “bối trần hiệp giác”, còn quên mất bản tâm, thấy biết mê mờ theo trần cảnh thì gọi là “bối giác hiệp trần”.

Giáo thọ sư bắt đầu chia sẻ tới chư hành giả về bài phú “cư trần lạc đạo”, theo thiền sư Thanh Từ, bài phú này được Sơ tổ sáng tác trong thời gian sáu năm lúc còn ở ngôi vị Thái thượng hoàng, tức là còn cư sĩ; ở trong triều đình hướng dẫn cho con là vua Anh Tông trị vì. Trên tinh thần “cư trần bất nhiễm trần”, sống nơi cung vàng điện ngọc mà Sơ tổ vẫn an vui được với đạo, không bị chi phối bởi việc đời. Do đó bài phú này rất có giá trị với người tu tại gia và cũng để nhắc nhở cho người xuất gia.

Lý do vì sao mà Sơ tổ Trúc Lâm trong quãng thời gian còn ở ngôi vua mà vẫn tu được, vẫn an vui với đạo? Đó là sự giác ngộ; ánh sáng giác ngộ có công năng dẫn dắt hành giả học Phật đi trên con đường chơn chánh. Ngài luôn an trú vào tam tạng kinh điển, nghiêm tầm kinh luật luận, phát huy bằng văn tư tu và thể hiện bằng giới định tuệ, từ đó phát huy diệu dụng của Phật pháp. Mỗi buổi trong ngày Ngài dành hết tâm huyết để chăm lo cho dân, dạy con trị nước; sau công việc bộn bề ấy thì Ngài vẫn dành một buổi để sống với tánh giác của mình.

Đi vào tìm hiểu bài phú “cư trần lạc đạo”, giáo thọ sư cho biết trong bài phú này chia ra làm mười hội, từ hội thứ nhất đến thứ mười. Buổi học hôm nay giáo thọ cùng hành giả tìm hiểu về hội đầu tiên.

 “mình ngồi thành thị, nết vùng sơn lâm”

Một bức chân dung của người giác ngộ hiện ra thật đẹp, với tư thế thân ngồi nơi thành thị phồn hoa, tuy ở trong trần mà tâm không bị nhiễm ô; tâm ý tịnh tĩnh, thoát tục y như một người sống nơi rừng núi. Trong thời gian làm Thái thượng hoàng, Sơ tổ nhận định được lý tưởng sống, có đường hướng để tu tập; vì thế trong hoàn cảnh biết bao người bị quyền lực, danh lợi cột trói khiến cuồng loạn, si mê mà Ngài vẫn an nhiên tự tại, là một vị vua điển hình, vừa có phước cai trị giữ gìn đất nước lại vừa có công đức nuôi dưỡng tinh thần giải thoát đạt được trí tuệ sáng suốt của Phật giáo.

Từ câu đầu của bài phú, giáo thọ sư liên hệ tới người xuất gia, tuy sống nơi thiền môn vắng lặng nhưng lắm khi cũng vọng động chuyện thế gian vì hành giả ít khi an trú nơi pháp hành để tâm tư xao động như vượn khỉ chuyền cành. Thời đại bây giờ tăng sĩ gặp phải khốn đốn vì sự phức tạp của các phương tiện thông tin đại chúng. Đó là lý do trong luật dạy người sơ tâm xuất gia không được đọc sách ngoại điển mà cần phải nương nơi phúc trí đại chúng để tu tập. Người xuất gia còn nhiều việc cao quý phải làm chứ không chỉ lãng phí vào những việc chẳng liên hệ tới sự tu tập giải thoát, cần có tinh thần mạnh mẽ, phát huy định tuệ để đối mặt với thị phi và thuận nghịch chốn dương trần.

“Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tánh; nửa ngày rồi tự tại thân tâm”,

Chữ rồi nghĩa nôm là rảnh rỗi, bởi nghiệp lặng nên thể tánh được an nhàn, trong cung vàng điện ngọc mà Sơ tổ đạt được tâm được thanh tịnh nhờ biết cách tịnh hóa nghiệp của mình. Xét về quy luật nghiệp, Đức phật là bậc đại trí huệ đã thấy rõ vòng lưu chuyển của nghiệp và chỉ ra con đường tịnh hóa nghiệp cho chúng sanh. Hành giả cũng có khả năng tu học để chuyển – dừng – dứt nghiệp, dùng pháp Phật để dứt niệm cho đến chỗ không còn niệm khởi; ví như các bậc A-la-hán đã dứt tất cả tâm hành, không tác ý nơi 3 nghiệp, tính chất của nghiệp là không cố định. Bằng sự tu tập đúng đắn hành giả có thể chuyển nhân chuyển quả, muốn làm được điều đó hằng ngày cần nuôi dưỡng thể tánh tịch tịnh sáng suốt để làm chủ quy trình vận hành của nghiệp.

Người học Phật không tận hưởng sự an nhàn bằng cách an trú nơi pháp hành là điều thiệt thòi lớn, sống với thể tánh an nhàn thì không có gì để phản bôn ba, bi quan hay chán nản, trong tâm thường an vui. Người giác ngộ nhìn cuộc đời với từ bi tâm, thương người còn vô minh, điên đảo; hơn nữa người học Phật phải là người tỉnh thức, soi sáng cho kẻ mê và bao dung thương xót người còn mê. Những đức tính này được huân đúc từ thể tánh an nhàn, vắng lặng. Nếu tâm còn dao động thì rõ ràng hành giả chưa có định huệ vững chắc và thiếu ý chí của bậc xuất trần thượng sĩ.

Dẫn lời Thiền sư Thanh Từ, Hòa thượng giáo thọ chia sẻ người xuất gia sống trong cảnh chùa lẽ ra phải ít phiền não, chung sống với những người đồng tu thì có gì tác động làm phiền nhiễu, tất cả do mình không khéo giữ bên trong, bởi lẽ nội tâm sôi sục những điều phải quấy hơn thua mới sanh rối rắm, ai khéo tu sẽ không như vậy; trong thiền môn mà tinh thần lục hòa được phát huy thì đại chúng thanh tịnh.

 Hòa thượng giáo thọ mong mỏi trong ba tháng an cư, chư hành giả an cư gắng tu học hết lòng, khéo sử dụng năng lượng của chánh niệm và thiền định để an trú trong không gian tĩnh mịch, duy trì thời khóa công phu. Một khi hành giả không có cảm giác khuôn khổ, ràng buộc thì nội tâm được rảnh rỗi để sống lại với thể tánh an nhàn; nhờ tâm an nhiên không vướng bận ấy mà phát huy trí tuệ sáng suốt dẫn dắt cuộc đời tu hành cho đến ngày viên mãn đạo quả.