“Tự tòng đốn ngộ liễu vô sanh, ư chư vinh nhục hà ưu hỉ”. Ngài Huyền Giác sau khi chứng đạo đã thấu hiểu tường tận đạo lý vô sanh, sở dĩ các pháp có sanh diệt sống chết là do chúng ta bám víu vào hiện tượng duyên khởi vốn không thật của vạn pháp mà không hề hay biết tánh chân thật của các pháp là không sanh không diệt. Trí tuệ an trú nơi thật tánh không sanh không diệt gọi là vô sanh pháp nhẫn….

Sáng ngày 01/07/2024 (26/05/Giáp Thìn), Trưởng lão Hòa thượng Thích Nhuận Hải đã quang lâm về giảng đường chùa Vạn Thiện tiếp tục giảng dạy về tác phẩm “Chứng đạo ca”.

Ngày tháng một khi đã trôi qua rồi chúng ta không thể kéo lại được, còn khỏe mà không chịu tu học, đến khi quá vãng buông xả thân tứ đại thì không có cơ sở nào để tiếp bước trên con đường giác ngộ ở đời sống tương lai. Đó là lời chia sẻ sâu sắc của Hòa thượng mở đầu cho bài giảng tại lớp học an cư sáng hôm nay. Theo Hòa thượng giáo thọ trong nhịp sống hằng ngày chúng ta có thói quen chạy đuổi theo vọng niệm, bị chi phối bởi hoàn cảnh quá nhiều, quỹ thời gian dành cho việc trở về với tự tâm, sống cho chính mình theo tinh thần đạo lý thì rất ít. Thời gian qua nhanh lắm vì thế hành giả ngày hôm nay gặp được Phật pháp, có được thân người, phát tâm vào đạo, có bạn đồng tu phải biết mình đã gieo trồng nhân duyên nhiều đời, đó là thiện căn phước sâu dày; hãy tự sách tấn lấy mình trên đường tu, để sau này không phải hối tiếc.

Hòa thượng giáo thọ tiếp tục giảng về bài Chứng đạo ca số 19: “Mấy hồi tử, mấy hồi sanh; Sanh tử mơ màng không định dứt!”. Cuộc đời chúng ta không chỉ sanh tử trong đời này mà trải qua vô số kiếp, khi nào chưa chấm dứt được nghiệp cảm do chính mình đã tạo ra trong nhiều đời nhiều kiếp thì vẫn bị trôi lăn trong vòng lục đạo.

“Tự tòng đốn ngộ liễu vô sanh, ư chư vinh nhục hà ưu hỉ”. Ngài Huyền Giác sau khi chứng đạo đã thấu hiểu tường tận đạo lý vô sanh, sở dĩ các pháp có sanh diệt sống chết là do chúng ta bám víu vào hiện tượng duyên khởi vốn không thật của vạn pháp mà không hề hay biết tánh chân thật của các pháp là không sanh không diệt. Trí tuệ an trú nơi thật tánh không sanh không diệt gọi là vô sanh pháp nhẫn.

Hành giả đối với hiện tượng duyên sanh mà chấp trước, tưởng là thật có rồi bám víu vào đó, buồn vui hỷ nộ, ái ố với nó, hễ nó vui mình vui, hễ nó buồn mình khổ theo, nó đẹp nó xấu thì khởi tâm thương ghét. Sở dĩ bị cảnh chuyển như thế là do lầm chấp cảnh là thật trong khi cảnh trần là hư vọng, không có tự tánh. Thế cho nên hành giả phải làm chủ cảm xúc, tự tại với muôn sự muôn vật, để không còn bị cảnh làm cho ưu bi sầu muộn. Khi có được cái nhìn đúng đắn rõ ràng về bản chất sự vật hiện tượng đang diễn ra thì ngay đó hành giả thấy được tự tánh không của các pháp, được tự tại, giải thoát.

Trong giấc mộng thì ba nẻo sáu đường đều có, tỉnh mộng rồi mới hay tất cả đều không. Chư Phật, chư Tổ đến với cuộc đời này để giúp chúng sanh tỉnh mộng, không còn bị buộc ràng, các Ngài dạy chúng ta xa lìa chấp thủ, luyến ái là nguyên nhân đưa đến sanh tử. Nếu nói đẹp đẽ gọi là vinh, thì xấu xa tội lỗi gọi là nhục, âu cũng đều là những khái niệm có bởi sự chấp thân này là ta, sở hữu của ta nên mới có vinh, có nhục. Người giác ngộ rồi đối với vinh nhục chẳng khởi vui buồn.

Đến bài ca chứng đạo số 20, “Nhập thâm sơn, trú lan nhã. Sầm ngâm u thúy trường tùng hạ”. Hòa thượng giáo thọ khuyên nhắc hành giả thường hỏi chính mình đã làm chủ được tự tâm chưa, nếu làm chủ được tự tâm thì dù ở bất cứ đâu cũng là đạo tràng thanh tịnh, vì tất cả những cảnh khả ái bên ngoài không thể đánh thức dục niệm trong tâm nữa. Nhưng một khi chưa làm chủ được tự tâm đòi hỏi phải chọn một hoàn cảnh thích hợp cho người xuất gia sống và tu hành là điều tối cần thiết. Bởi vậy các bậc cổ thánh, tiên hiền thường dựng am thất trên núi, sau một thời gian công phu hành trì miên mật, liễu ngộ rồi mới xuống núi độ sanh. Những hành giả nào vội vã đi vào đời độ sanh với định lực non nớt sẽ không thành tựu gì nhiều, ngược lại lắm khi còn bị rơi rớt đạo tâm; hai giai đoạn tự lợi, lợi tha cần theo trình tự, bằng cách xét nghĩ nhân cách đạo đức đã đủ hay chưa rồi mới đi hoằng đạo. Người giác ngộ chân tướng của vạn pháp rồi thì tâm không mê trước hiện thực cuộc đời, không kẹt nơi chỗ mắt thấy tai nghe; đi tới chỗ phá tan vô minh, chấp ngã. Tường tận tính chất duyên sinh giả tạm trong muôn sự muôn vật thì hành giả sẽ vượt thoát mọi bi lụy, khổ đau.